Viên Linh
Những ngày nghỉ học tôi hay tới
Ðón chuyến tầu đi đến những ga
Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt
Lòng sầu đau xót nỗi chia xa.
Tôi thấy tôi thương những chiếc tầu
Ngàn đời không đủ sức đi mau
Có chi vương vấn trong hơi máy
Trong những toa đầy nặng khổ đau
(Tế Hanh, Những ngày nghỉ học)
Một toa tàu thời chiến tranh Việt Nam với đại bác và súng liên thanh bố trí sau các tấm thép. (Hình: Wikipedia)
Con tầu, nhà ga, đó là hình ảnh quen thuộc trong thơ Việt Nam. Trong hai đoạn thơ trên, Tế Hanh nói về con tầu khi thi sĩ còn là một cậu học trò, song đã nói được mấy nét điển hình của nó: nặng nề trong hơi máy nổ xình xịch, chuyển dịch ì ạch tạo cho người ta cái cảm tưởng con tầu, bất cứ con tầu nào, “ngàn đời không đủ sức đi mau,” mà nó không đi mau được chính vì “những khổ đau” nó chở đã quá nặng nề. Tế Hanh hay ra nhà ga, ông thích “xem tiễn biệt” và mấy câu thơ tả con tầu của ông thực sự là tả một biểu tượng của phân ly, ở đây là một biểu tượng phân ly trong thi ca Việt Nam. Vài chục năm sau cái biểu tượng phân ly ấy vẫn còn, song khốc liệt hơn nhiều trong thơ của một thi sĩ khác:
Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi.
Lúc đó, sao trời đã ngủ mê.
Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dạy,
Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi.
Tàu đi như một cơn điên đảo,
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ĩ một cơn đau.
(Tô Thùy Yên, Tàu đêm)
Con tầu của Tô Thùy Yên là tầu chở tù. Nó không ì ạch rì rì mà nó rú “Tàu rú,” nó lao đi ầm ĩ “sắt thép va động nhau” “như một cơn điên đảo.” Cuộc ly biệt của tình cảm dù sao cũng êm đềm, còn sự “chuyển tù” thì khác hơn nhiều: Người ta không biết những sân ga phía trước sẽ đưa họ đi đâu, có thể chỉ là cõi chết: “Toa nêm lúc nhúÔc hồn oan khóc / Ðèn bão mờ soi chẳng rõ ai.”
Lớn lên bên một nhà ga, chạy nhảy trên những sàn goòng, nghe tiếng xình xịch mệt mỏi của đầu tầu chạy bằng than, bằng củi đốt và đêm đêm nhìn những đốm lửa bắn ra từ lò đốt của đầu tầu, bay theo tầu, chân trời xa trong trí óc tôi thuở nhỏ là những vùng mơ mộng ảo huyền, điển hình là vùng ánh sáng chiếu lên từ Hà Nội, cách quê làng tôi, thị trấn Ðồng Văn, có 48 cây số về phía Bắc.
Nhà tôi ở cách nhà ga vài trăm mét, và ở ngay trên Quốc lộ số 1, hay con đường Xuyên Việt. Con đường này phía Bắc qua Ðồng Ðăng, xuôi Nam phải chạy qua Hà Nội, qua Thường Tín, ngừng lại ở Ga Ðồng Văn quê tôi, qua Phủ Lý, qua Huế, qua Hội An qua Qui Nhơn, qua Tuy Hòa… vào tới Sài Gòn. Thuở nhỏ tôi đã biết chỉ cần nhảy lên con tầu kia, và 2 ngày sau tôi sẽ đặt chân xuống Hòn Ngọc Viễn Ðông, vậy mà chưa khi nào cuộc du hành đó được thực hiện. Năm 1957 tôi đã lên tầu ở nhà ga Sài Gòn, đi Nha Trang, tới Tuy Hòa thì phải xuống tầu, vì cây cầu sắt đã bị mìn làm gẫy ngang sông.
Ý niệm xây con đường Xuyên Việt có từ năm 1897, nhưng không phải của người Việt, mà của viên toàn quyền Ðông Dương người Pháp là Paul Doumer. Ông nói rằng dân chúng Việt Nam quá nghèo đói, nếu không có một thiết lộ xuyên Việt thì không thể chuyên chở thực phẩm tới mọi nơi nhanh chóng được. Thế là dự án xây đường sắt Xuyên Việt thành hình, với nhân công toàn người Việt. Ðến năm 1914 công tác đặt đường phải tạm ngưng vì Thế Chiến Thứ Nhất. Khi công việc hoàn tất, phí tổn vào khoảng 3 tỉ Mỹ kim, bốn lần cao hơn con đường sắt đắt giá nhất tại chính quốc Pháp! Khi Nhật chiếm Việt Nam trong Thế Chiến Thứ Hai, họ độc quyền sử dụng tầu hỏa, dân chúng người Việt không được bước chân lên tầu. Trong 4 năm từ 1961 tới 1964, 27 nhân viên hỏa xa miền Nam bị Việt cộng giết chết… Con đường sắt ấy không được sử dụng hết trong thời chiến, các thanh đường ray bị bóc mất, và các nhà ga bị bỏ không. Tuy thế, con tầu nặng nề, nhà ga thân ái vẫn không ngừng xuất hiện trong thơ tôi.
Tàu chạy ngang qua Quảng Trị, vùng phi quân sự trước 75. (Hình: NYT magazine 11.1997)

Tôi khóc chiều nay trong nắng vàng
Nhớ về quê cũ Phố Ðồng Văn
Tuổi thơ lãng đãng sân ga rộng
Vòng bánh không về nhịp pháp luân.
(Viên Linh, Quê cũ)
Chim bay từ Bắc sang Nam
Mặt trời đang lại nỗi hàn đang xa
Em ơi từ lúc phôi pha
Mặt trăng càng tỏ sân ga càng gần
Con tầu lặng lẽ vào sân
Anh là hành lý gởi lầm đến đây.
(Viên Linh, Hành lý)
Tháng 8, 2012
*Tài liệu trong bài To Hanoi by Train của David Margolick, N.Y. Times magazine, 11.1997.





































































