Nhân quyền vẫn là trở ngại
HÀ NỘI (NV) – Ðại diện Thương Mại của chính phủ Mỹ, ông Ron Kirk, đến Hà Nội để đàm phán về Hiệp Ðịnh Mậu Dịch Xuyên Thái Bình Dương (Trans Pacific Partnership-TPP). Tuy nhiên, nhân quyền vẫn có thể là một trong những trở ngại của đề tài này.

Ông Brian Krzanich, phó chủ tịch đại công ty sản xuất chip điện toán, phát biểu trong buổi lễ loan báo tăng đầu tư vào cơ sở sản xuất ở Sài Gòn lên $1 tỉ ngày 10 Tháng Mười Một, 2006. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/GettyImages)
Bản tin của Ðại Diện Thương Mại Mỹ (USTR) loan báo ông Ron Kirk sẽ đến Việt Nam hôm Chủ Nhật, 2 Tháng Chín, và ngày hôm sau, Thứ Hai, 3 Tháng Chín, đàm phán với phía Việt Nam nhằm “tăng cường mối quan hệ song phương, thúc đẩy sự hội nhập của Việt Nam vào tổ chức Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương và Hội nhập Kinh Tế Khu Vực” thường được biết dưới tên tắt là TPP.
“Chuyến du hành của ông Kirk tượng trưng cho cơ hội tăng cường mối quan hệ mậu dịch mạnh mẽ và năng động giữa hai nước Hoa Kỳ và Việt Nam.” Bản thông cáo báo chí của USTR viết như vậy và đưa ra con số thống kê mậu dịch hai chiều giữa hai nước để chứng minh.
Khi Việt Nam và Hoa Kỳ mới thiết lập bang giao cách đây 17 năm, mậu dịch hai chiều chưa được $1 tỉ, nhưng tới năm ngoái đạt được $22 tỉ.
Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ nhiều nhất trong khi Hoa Kỳ cũng là một trong những nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam với nhiều dự án lớn, kỹ thuật cao.
Ðại sứ Kirk sẽ thảo luận với đối tác Việt Nam để kết thúc những điều sau cùng cần thỏa thuận trong mục tiêu chung cũng được đề ra ở Diễn Ðàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu-Thái Bình Dương (APEC) và những sáng kiến hậu thuẫn hội nhập của tổ chức ASEAN, theo nội dung bản thông cáo báo chí nói trên.
Các cuộc thương thuyết TPP từ năm 2005 đã đi đến các thỏa thuận sơ khởi giữa Hoa Kỳ với Brunei, Chile, New Zealand và Singapore, nhưng sau đó mở rộng dần với các cuộc đàm phán khác gồm cả Việt Nam, Úc, Malaysia, Peru, Nhật, Canada và Mexico. Vòng đàm phán thứ 14 diễn ra giữa Tháng Sáu vừa qua ở Leesburg, Virginia, Hoa Kỳ.
Việt Nam chỉ muốn Mỹ mở cửa cho mình xuất cảng hàng hóa hoặc đánh thuế quan tối thiểu hoặc miễn thuế hoàn toàn và bỏ qua những chuyện khác. Nhưng Hoa Kỳ, với nhiều áp lực nội bộ và nhu cầu nội tại, đòi Hà Nội cải thiện nhiều mặt từ luật lao động, hàng dệt may, nhân quyền cũng như nới lỏng nhập cảng cho hàng Mỹ.
Washington từng tài trợ $2.5 triệu cho dự án “Thúc đẩy quan hệ lao động” mà một trong những điểm chính là nâng cao khả năng của thanh tra lao động. Luật lệ lao động CSVN cấm cản người công nhân đình công đòi hỏi quyền lợi chính đáng chống bóc lột bất công qua rất nhiều tầng nấc nhiêu khê. Hệ thống công đoàn thì hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của đảng CSVN, không phục vụ quyền lợi giới lao động.
Một số trong những thử thách đàm phán TPP giữa Washington và Hà Nội là Mỹ muốn áp dụng chặt chẽ điều kiện “xuất xứ sản phẩm” đối với hàng dệt may cũng như giày dép. Theo quan điểm này, nước xuất cảng (Việt Nam) muốn được hưởng ưu đãi thuế quan (ở Mỹ) phải tự sản xuất lấy hết từ sợi, vải đến may cắt cho quần áo và da và các nguyên liệu khác để sản xuất giày dép đều phải có xuất xứ tại Việt Nam.
Tuy nhiên, trong trường hợp Việt Nam, hầu hết nguyên liệu để sản xuất quần áo và giày dép xuất cảng sang Mỹ đều phải mua của Trung Quốc. Các xí nghiệp sản xuất quần áo và giày dép ở Việt Nam hầu hết chỉ là những cơ sở gia công khổng lồ.
Không kể những lời chống đối mạnh mẽ của kỹ nghệ may cắt quần áo, nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ cũng đòi chính phủ áp đặt thuế quan đặc biệt với hàng dệt may của Việt Nam hầu bảo vệ kỹ nghệ nội địa, thay vì cho miễn thuế quan. Hiện nay, thuế suất hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ nằm trong khoảng 18% đến 36%.
Bên trên đó, hệ thống xí nghiệp quốc doanh của Việt Nam được hưởng những đặc lợi của một nền kinh tế chỉ huy không minh bạch mà các nhà thương thuyết mậu dịch ngoại quốc không thể không nêu ra. Các hãng quốc doanh được ưu tiên cấp tín dụng đã đành lại còn được cho vay với lãi suất thấp hơn so với các công ty tư nhân. Nếu sự phân biệt đối xử bị bãi bỏ, doanh nghiệp quốc doanh khó lòng tồn tại.
Một trong những điểm được nêu ra trong cuộc thương thuyết TPP với Việt Nam là Hoa Kỳ muốn Hà Nội cải thiện nhân quyền. Ít ngày trước khi ông Kirk đến Hà Nội, viên chức tòa đại sứ Mỹ đã có cuộc tiếp xúc với một số người bất đồng chính kiến để nghe ý kiến và đề nghị đòi hỏi CSVN trả tự do vô điều kiện cho các người dân vận động dân chủ hóa đất nước mà bị gán cho tội “Tuyên tuyền chống nhà nước…” hay “Âm mưu lật đổ…”
Hà Nội rất nhạy cảm với những kêu gọi “Cách Mạng Màu” hay “Mùa Xuân Ả Rập.” Mới tuần qua, ngày Thứ Sáu, 31 Tháng Tám, báo Nhân Dân, cơ quan tuyên truyền chính thức của Ðảng CSVN, đả kích các sự vận động để hình thành một xã hội dân sự ở Việt Nam là “thủ đoạn của diễn biến hòa bình” nhằm xóa chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam.
Cũng trong ngày Thứ Sáu tuần qua, báo tài chính Wall Street Journal cho hay, cuộc khảo sát hơn 350 viên chức cầm đầu các xí nghiệp Mỹ đầu tư ở Việt Nam cho rằng 57% muốn mở rộng làm ăn ở Việt Nam trong khi chỉ có 6% là muốn mở rộng ở Indonesia và 11% ở Thái Lan. Ðồng thời, có tới 82% tin rằng lợi nhuận của họ gia tăng dù thấy có những dấu hiệu tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam chậm lại những năm gầy đây. Trong khi đó họ cũng vẫn lấy làm khó chịu khi nạn tham nhũng và vòi vĩnh hối lộ ở Việt Nam vẫn tràn lan.















































































