Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 66
Gã trút giỏ cam xuống giường. Cả lều thơm ngào ngạt.
– Em nói giùm tôi cảm ơn bà rất nhiều vì món quà bà cho và khuyên bà nên cẩn thận đề phòng! Bà nên cẩn thận không được ra ngoài làng vì bất cứ lý do gì, nghe rõ chưa? Bà nên ở trong nhà một thời gian, cho đến khi người ta quên câu chuyện bất hạnh này đi! Em hiểu không, Mimiko?
– Chỉ có thế thôi à, ông chủ?
– Chỉ có thế thôi, đi đi.
Mimiko nháy tôi.
– Chỉ có thế thôi à?
– Ði mau đi!
Gã bỏ đi. Tôi bóc một trái cam. Trái cam nhiều nước và ngọt như mật ong. Tôi đặt mình xuống, thiếp đi, và suốt đêm tôi đi thơ thẩn trong vườn cam. Một cơn gió ấm áp nổi lên, ngực tôi phơi trần trước gió và tôi có một cọng hoắc hương giắt sau tai. Tôi là một nông dân hai mươi tuổi, tôi đi lang thang trong vườn cam, tôi huýt sáo chờ đợi. Tôi chờ đợi ai? Tôi không rõ, nhưng trái tim tôi sắp nổ tung vì hân hoan. Tôi vuốt ria và lắng nghe, suốt đêm, biển thở dài như một người đàn bà sau vườn cam.
15
Ngày hôm đó có một cơn gió nồm dữ dội, nóng bỏng, thổi từ sa mạc Phi Châu qua Ðịa Trung Hải tới. Những đám bụi cát mịn quay cuồng trong không khí, len vào cổ họng và phổi. Răng nghiến ken két, mắt nẩy lửa, cửa ra vào, cửa sổ phải đóng kín mít nếu người ta muốn ăn một miếng bánh mì không rắc cát.
Không khí ngột ngạt. Trong những ngày khó thở này khi nhựa dâng lên, tôi cũng cảm thấy nỗi bứt rứt không yên của xuân thì. Một sự mệt mỏi, một sự náo động căng thẳng trong lồng ngực, một cảm giác rần rần như kiến bò khắp châu thân, một ước vọng – hay hoài niệm? – về một niềm hạnh phúc đơn giản và lớn lao.
Tôi đi theo đường mòn đầy sỏi dẫn lên núi. Tự nhiên tôi muốn thăm viếng tiểu đô thị Minos đã chồi lên khỏi mặt đất sau ba hay bốn ngàn năm và sưởi ấm lại lần nữa dưới mặt trời Crete thân yêu. Tôi nghĩ sau ba bốn giờ đi bộ, sự mỏi mệt có thể làm dịu cơn bứt rứt mà mùa Xuân đã mang lại.
Những tảng đá xám trơ gan cùng tuế nguyệt, một vẻ trần truồng sáng choang, ngọn núi tàn khốc và tịch liêu tôi yêu. Một con cú mèo, mắt vàng tròn xoe bị đui mù bởi ánh sáng, đậu trên một tảng đá. Nó trang nghiêm, đẹp đẽ và đầy bí ẩn. Tôi đi rón rén, nhưng tai nó rất thính; nó sợ hãi bay lên không tiếng động giữa tảng đá và biến mất.
Trong không khí thoáng mùi bạch-lý-hương. Những bông hoa vàng và dịu dàng đầu tiên của cây kim-tước đã bừng nở giữa những gai góc.
Tôi sửng sốt khi trông thấy tiểu đô thị điêu tàn. Lúc đó phải vào quãng trưa rồi, tia mặt trời dọi thẳng xuống và dội ánh sáng chan hòa trên những đổ nát. Trong những đô thị cổ điêu tàn, đây là giờ nguy hiểm nhất. Không gian tràn ngập những tiếng la thét của quỉ thần. Một cành gẫy, một con thằn lằn bò nhanh, một đám mây rợp bóng bay qua đủ khiến ta kinh hoàng. Mỗi tấc đất ta giẫm chân lên là một nấm mồ và ta nghe thấy người chết rên la.
Dần dần, mắt quen với ánh sáng chói lọi. Giữa những đổ nát, bây giờ tôi có thể nhận thấy bàn tay con người: hai con phố rộng lát đá nhẵn bóng. Bên phải bên trái hai con phố là những phố hẹp, ngoằn ngoèo. Ở giữa, một công trường hình tròn hay một hội trường và cạnh đó, với một vẻ hạ cố rất dân chủ, là cung điện nhà vua với những hàng cột đôi, những cầu thang đá rộng rãi và vô số tòa nhà phụ.
Trong trung tâm đô thị, nơi đá mòn nhẵn nhiều nhất bởi bàn chân người, đền thờ xưa hẳn phải dựng lên ở đây: Ðại Nữ Thần còn đó, hai vú nẩy nở và cách xa nhau, hai cánh tay cuốn lại như rắn.
Tiệm buôn nhỏ, máy ép dầu, lò rèn, xưởng mộc và xưởng đồ gồm ở khắp nơi. Một tổ kiến kiểu mẫu khéo léo, xây dựng trong một vị trí khuất khúc mà những con kiến đã biến mất hàng ngàn năm trước. Trong một xưởng thợ, một thợ thủ công đã khắc một cái bình trong đá vân, nhưng chưa có thời giờ hoàn thành: dao khắc tuột khỏi tay hắn, được tìm thấy hàng ngàn năm sau, bên cạnh tác phẩm bất toàn.
Những vấn đề vĩnh cửu, vô ích, ngu xuẩn: Tại sao? Ðể làm gì? Trở lại đầu độc tâm hồn ta một lần nữa. Cái bình bất toàn trên đó cảm hứng hân hoan và tin tưởng của người nghệ sĩ đột nhiên thất bại, khiến lòng tôi tràn trề cay đắng.
Thình lình một mục đồng, da rám nắng, quấn một cái khăn tay quanh mái tóc quăn, đứng trên một tảng đá cạnh lâu đài đổ nát để lộ hai cái đầu gối đen thui ra.
– Ê! Ông bạn đó à? Gã la lên.
Tôi muốn được cô độc. Tôi làm bộ không nghe thấy. Nhưng tên mục tử phá lên cười chế giễu.
– Ê! Làm bộ điếc hả? Này! Có điếu thuốc lá nào không? Cho xin một điếu! Trong cái sa mạc này, tôi rầu muốn chết.



























































































