Từ tấm ảnh ố vàng đến bài luận văn Harvard ‘Gái Mới’

Kalynh Ngô/Người Việt (*)

Xưa nay, thơ ca và họa phẩm là hai lĩnh vực thường cho người ta chiêm ngưỡng một hình ảnh thay đổi theo thời gian rồi trở thành biểu tượng. Ví dụ, chiếc áo dài Le Mur trong “Mẹ Và Con” của họa sĩ, nhà thiết kế thời trang Nguyễn Cát Tường, là biểu tượng của sự kết hợp giữa truyền thống Việt Nam và đổi mới hiện đại.Trong bức tranh chân dung của Lương Xuân Nhị, người phụ nữ mặc áo dài hiện đại hở nhẹ phần eo, khăn quàng cổ, quần trắng, gương mặt kiêu hãnh, mái tóc ngắn, hoàn toàn phá cách khỏi búi chignon cổ điển, là bước chuyển mình của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh lịch sử đầy biến động. “Một Đời Áo Mẹ, Áo Em” của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng là bức tranh vĩ đại về chiếc áo dài, nói lên khí chất kiên cường của người phụ nữ Việt Nam. Trường ca Con Đường Cái Quan của cố nhạc sĩ Phạm Duy là cuốn phim về cuộc di hành từ thời lập quốc, suốt chiều dài đất nước.

Cuộc biểu tình ngày quốc tế Lao Động 1 tháng Năm, 1937, tại Công Trường Đấu Xảo Hà Nội. Bà cố Hoàng Thị Vân Nhung của Julia Đỗ là người phụ nữ duy nhất trong tấm hình. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Nhưng trong một luận án tốt nghiệp từ một sinh viên gốc Việt tại Đại Học Harvard, thì hiếm có.

“Con Gái, Con Đứa!” – Cuộc Tranh Cãi Về Cái Đẹp Phụ Nữ Việt Nam Hiện Đại, luận án của Julia Đỗ, là một “bản trường ca” về nét đẹp của người phụ nữ mới qua nhiều thế hệ. Trong “Con Gái, Con Đứa!,” Julia Đỗ đi tìm cái đẹp hiện đại, tân thời của người phụ nữ Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ trước. Họ không còn “liễu yếu đào tơ.” Họ là gái mới. Những tấm bưu thiếp trôi qua hàng thế kỷ đã cho thấy một thẩm mỹ văn minh từ lâu của gái mới và Julia muốn trả lại cho họ một chỗ đứng trong lịch sử.

Từ một bức ảnh ố vàng

Câu chuyện mở ra với hình ảnh giản dị ở Little Saigon, California, vùng đất Julia Đỗ sinh ra và lớn lên. Nơi đó, tuổi thơ của cô gắn liền với những câu chuyện kể của bà ngoại. Không phải là chuyện cổ tích, cũng không là thần thoại, mà là những ngày tháng chạy trốn bom đạn chiến tranh. Bà ngoại trong ký ức của Julia là mùi son môi đỏ, tiếng xột xoạt của những tờ báo, và tiếng rè rè của chiếc radio cũ.

“Giọng nói của bà đưa tôi về một Việt Nam thời thuộc địa, với những đại lộ rợp bóng cây cổ thụ, những cửa hàng sang trọng, và những bà đầm tóc vàng hoe. Trên bàn trang điểm của bà luôn có một bức ảnh ngả màu nâu đất của bà trong chiếc áo dài kẻ caro, mái tóc búi gọn ôm lấy khuôn mặt, đôi môi được tô vẽ cẩn thận. Với tôi, bà trông giống như một ngôi sao Hollywood thời xưa, một Hedy Lamarr của Việt Nam.”

Tấm hình “Gương Lồng Bóng Nga” do nhiếp ảnh gia Lê Đình Chữ chụp ngày 28 Tháng Mười Một, 1935, là hình ảnh tiêu biểu cho sự lịch thiệp đầy tính thẩm mỹ. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Bà ngoại của Julia tên Vũ Thu Hà, sinh năm 1933. Bà hay tự hào nói với cô, rằng bà là một gái mới. Nghĩa đen là “gái mới” (new) ngược với “gái cũ” (old). “Gái mới” tiếp nhận nét đẹp và tư tưởng phương Tây. Bà của Julia trang điểm, mua sắm ở các cửa hàng thời trang, nói tiếng Pháp. Với Julia, bà ngoại cô là hình mẫu của phụ nữ hiện đại những năm 1920 và 1930. “Nhưng bà đã bị gạt ra, hoặc bị lãng quên, trong các nghiên cứu toàn cầu về phụ nữ hiện đại.”

Trong Thư Viện Quốc Gia Việt Nam, Julia thấy từ “gái” (girl) xuất hiện tăng dần từ 1920 đến 1930, nhưng sau đó giảm xuống vào những năm 1940.

“Vì vậy, tôi tự hỏi, tại sao lại có sự xóa bỏ này? Điều gì đã định nghĩa một cô gái mới Việt Nam, và tại sao cô ấy chỉ được nhớ đến qua hình ảnh?”

Sau khi bà ngoại Julia qua đời vào năm 2020, trong số những kỷ vật của bà, cô phát hiện một tấm ảnh cũ, do người bạn của bố mẹ của bà ngoại gửi cho bà, với nội dung viết tay: “Thân ái tặng cháu Vũ Thu Hà để kỷ niệm ngày ba má của Hà dự cuộc biểu tình ngày Quốc Tế Lao Động 1-5-37 tại Công Trường Đấu Xảo Hà Nội. Sài Gòn 4-10-1969.”

Tấm ảnh cũ làm Julia chú ý. Cô thấy một người phụ nữ nhỏ nhắn, đứng lấp ló sau một trong số những người đàn ông trong ảnh. Đó là bà cố của cô, Hoàng Thị Vân Nhung. Bà là người phụ nữ duy nhất trong khoảng mấy chục người đàn ông.

“Chuyện kể rằng bà cố của tôi chỉ có thể tham gia cuộc biểu tình này nhờ lời mời chồng bà, tức ông cố của tôi. Bằng chứng bà là người phụ nữ duy nhất trong khung hình cho thấy sự hiện diện của bà giữa giới trí thức Hà Nội, chủ yếu là nam giới, hẳn đã gây ra không ít tranh cãi, phản đối, hoặc ít nhất là bất ngờ. Trong bức ảnh, chú ý lắm mới thấy bàn tay nhỏ nhắn của bà cầm một chiếc quạt, chiếc áo dài bó sát khoe vóc dáng hiện đại, và khuôn mặt trang điểm của bà toát lên vẻ kiên quyết – không chấp nhận tự ti.”

Hình trang bìa tạp chí Ngày Nay phát hành ngày 10 Tháng Hai, 1935, có tên “Đêm Giao Thừa Đốt Hương.” (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Qua tấm ảnh này, Julia “có thể thấy khát vọng về một dân tộc và tinh thần phản kháng của ông bà cố, bất chấp sự phân cực khuôn mẫu trong thời Pháp thuộc đó. “Vượt khỏi định hình là một cô gái tư sản phung phí, bà cố của tôi rõ ràng cũng có những hy vọng chính trị, có lẽ là cho sự giải phóng của chính mình.”

Bà cố Hoàng Thị Vân Nhung của Julia trong tấm ảnh, 23 tuổi, rõ ràng khác rất xa với phụ nữ thời kỳ lúc đó, “liễu yếu đào tơ.” Trong tà áo dài bó sát, bà cố của Julia là một gái mới.

Đến luận văn về ‘gái mới’

Luận văn gồm ba chương.

Chương I, Julia xác định nguồn gốc của truyền thống nhiếp ảnh phân biệt giới tính ở Việt Nam và lập luận rằng những tấm ảnh chụp người phụ nữ vừa xây dựng vừa phản biện mối quan hệ thuộc địa giữa Pháp và Việt Nam, bằng cách khai thác các khái niệm về văn minh và nguyên thủy. Việc đặt những hình ảnh này vào cuộc đối thoại với nhau sẽ tạo ra bối cảnh cần thiết để hiểu về “gái mới” trong bối cảnh rộng hơn chứ không trong môi trường tách biệt.

Những bưu thiếp thời kỳ này như mặt hàng hữu hình, chứa đựng những hình ảnh của phương Đông. Những bức ảnh như Femme au miroir (1895) khắc họa cô gái trẻ ngồi khoanh chân trên chiếu trúc, ngắm nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong chiếc bàn trang điểm trước mặt. Một khung cảnh tĩnh lặng, không ai ngoài người xem có thể làm xáo trộn sự thân mật này. Tuy nhiên, cô gái không nhìn chúng ta mà nhìn chính mình. Cô quay mặt đi, lưng trần và cánh tay lộ rõ qua lớp áo yếm truyền thống, cổ được trang trí bằng những hàng hạt cườm, và tóc được búi cao, cài mũ bằng mấn.

Nét Á Đông và dân tộc Việt Nam của chủ thể vẫn là điểm chính. Điều này được thể hiện rõ ràng qua việc nhiếp ảnh gia bưu thiếp từ chối dàn dựng bất kỳ chủ thể nào trong trang phục phương Tây. Thay vào đó, chọn trang phục Việt Nam trang trọng khi thể hiện địa vị và sự lịch thiệp.

Hình bìa tạp chí Trung Bắc Hè ngày 23 Tháng Sáu, 1940, do nhiếp ảnh gia Võ An Ninh chụp, có tên “Nắng Êm Gió Mát.” (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Đến cuối thời kỳ thuộc địa (những năm 1930-1940), bưu thiếp đã mang hơi hướm phương Tây. Trong “Gương Lồng Bóng Nga” (1935, tạp chí Loa), một phụ nữ đang tạo dáng năng động trong chiếc áo dài giản dị và lớp trang điểm hiện đại, biến khung hình đầy vẻ tự mãn thành một khung hình đầy tự tin, hình ảnh phản chiếu của cô tượng trưng cho sự hiện diện đầy quyền năng. Tương tự, “Mùa Hạ Đã Tới” (1935, Ngày Nay) khắc họa hai cô gái nhưng mỗi người vẫn giữ được cá tính và phong cách riêng của họ. Bưu thiếp thể hiện tính khát vọng và thẩm mỹ.

Những tấm hình áo tắm năm 1940 của Võ An Ninh thách thức các chuẩn mực về ngoại hình trong Nho giáo. Hình phô bày cơ thể người phụ nữ trong những chuyển động thể thao, vui tươi – tắm nắng, bơi lội, leo trèo – như biểu tượng của sự tự chủ về cơ thể và sự hiện diện của phụ nữ trước công chúng. Sự tiến hóa của nhiếp ảnh làm sáng tỏ tính chủ động năng động của gái mới.

“Cô ấy trông rất thoải mái khi khoe thân: chân và tay hoàn toàn để trần, trong khi nụ cười rạng rỡ trên môi, như tất cả các cô gái mới trong số này. Các người mẫu của Võ An Ninh tự tin khoe vẻ đẹp hình thể của chính mình, khoe vóc dáng cân đối hoặc thể hiện thân hình khỏe mạnh của mình qua những động tác thể thao. Họ bơi lội, họ tận hưởng, họ vui chơi.”

Chương II, Julia khám phá sự xuất hiện của gái mới như một nhân vật của tờ Phụ Nữ Tân Văn (1929–1935), một tờ báo dành cho phụ nữ có trụ sở tại Sài Gòn, cổ xúy cho chủ nghĩa hiện đại ôn hòa trong giới độc giả thành thị có học thức.

“Phấn son tô điểm sơn-hà,

Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.”(Hai câu thơ trên bìa của tờ Cover Illustration,  Phụ Nữ Tân Văn, 1930)

“Đối với Phụ Nữ Tân Văn, giá trị của việc phụ nữ biết chữ vừa mang tính thẩm mỹ vừa mang tính dân tộc – giống như khuôn mặt của một người phụ nữ có thể được ví như phong cảnh Việt Nam, việc làm đẹp và giáo dục của họ có thể được ví như sự tiến bộ của quốc gia.”

Hình bìa báo Phụ Nữ Tân Văn số 70, phát hành ngày 18 Tháng Chín, 1932. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Thông qua các nghiên cứu điển hình về bà cố của Julia và nghệ sĩ tiên phong Lê Thị Lựu, người cho đến ngày nay vẫn chưa được nhiều học giả phương Tây nghiên cứu về nghệ thuật hiện đại Việt Nam, cô lập luận rằng việc gắn bó với thẩm mỹ “đúng” của văn minh có thể mang lại cho một phụ nữ trẻ quyền tự quyết lớn hơn trong các lĩnh vực công cộng.

Cuối cùng, Chương III – cô gọi chương này là Xuất Bản Gái Mới.

Julia phân tích hình ảnh gái mới trong một loạt các tờ báo khác, như báo Ngày Nay, để chứng minh nét lịch thiệp về mặt thẩm mỹ đã thúc đẩy hình ảnh người phụ nữ được trao quyền như thế nào. Phong trào gái mới đã được hiện thực hóa hoàn toàn vào năm 1940 với sự ra đời của văn hóa tiêu dùng, dẫn đến việc chỉ trích gái mới trong các bức biếm họa, vì họ không còn đại diện cho hình ảnh hiện đại, hữu ích về chủ nghĩa dân tộc của ấn phẩm. Những số báo đầu tiên lý tưởng hóa hình ảnh gái mới như một sự kết hợp đầy khát vọng giữa hiện đại và truyền thống, trao quyền cho phụ nữ thông qua phán xét thẩm mỹ của người tiêu dùng. Đến năm 1940, trào phúng đã khắc họa hình ảnh gái mới một cách hời hợt và quá Tây hóa, phản ánh nỗi lo lắng của chủ nghĩa dân tộc trước sự xói mòn văn hóa.

Chân dung bà Nguyễn Thị Hậu đã đi vào lịch sử như người đầu tiên mặc áo dài hiện đại của Lemur. Số Đỏ (1936) của Vũ Trọng Phụng châm biếm qua cửa hàng Âu hóa với xu hướng khai thác và phụ nữ tình dục hóa quá mức.

Bà Văn Minh, vợ của chủ cửa hàng may mặc Âu hóa đánh tiếng: “Các thiếu nữ bây giờ ăn mặc tợn hơn các me Tây khi xưa! Thật là tân thời, thật là đĩ thỏa!”

Báo Ngày Nay nhắm chính xác đến tầng lớp trung lưu Việt Nam. Vì ban biên tập đều là nam giới, nên có thể những hình ảnh phụ nữ xinh đẹp này phục vụ mục đích trang trí, làm đẹp cho các trang báo dành cho độc giả nam.

Số báo Xuân của Ngày Nay là hình ảnh gái mới Đông Tây hòa quyện. Bìa “Đêm Giao Thừa Đốt Hương” (Hà Nội, 1935) là một cô gái khiêm tốn thờ cúng tổ tiên, son môi và khăn quàng phong cách phương Tây.

Đến năm 1940, phong trào gái mới đã hiện thực hóa hoàn toàn ở Việt Nam. Dù lúc đó, những ký họa trào phúng Julia trích dẫn từ tờ Ngày Nay cho thấy báo chí lại đi theo xu hướng phê phán để chế nhạo. Nhưng ngoài điều đó, những tấm hình tạo dáng thẩm mỹ, chủ động của gái mới đã nhấn mạnh sự lịch sự, tân tiến của họ. Mặc dù, phụ nữ trong những bức ảnh đó có thể được nhiếp ảnh gia cố tình tạo dáng, họ vẫn thể hiện cơ thể mình trong tư thế và dáng dấp mang tính nhân văn. Cho dù đó là khoe bộ trang phục thời trang mới nhất, tham gia vào các nghi lễ văn hóa, hay làm những việc vặt hàng ngày.

Bà ngoại của Julia Đỗ, bà Vũ Thu Hà. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Do đó, các cuộc tranh luận về sự chấp nhận của xã hội đối với gái mới trên báo chí và tạp chí, “sẽ rất hạn chế nếu không đánh giá những hình ảnh chụp chính những phụ nữ trẻ, đặc biệt là khi hình minh họa châm biếm năm 1940 lại quá cường điệu.”

Luận án “Con Gái, Con Đứa!” khép lại với hình ảnh của những gái mới của năm 1950, hiện đại, trí thức và đầy tự tin.

Julia Đỗ kết luận rằng: “Dù ngắn ngủi, gái mới đã để lại dấu ấn khó phai mờ trong văn hóa Việt Nam. Vượt qua ý nghĩa một tư sản thân Pháp, gái mới đã thúc đẩy các cuộc trò chuyện về chủ nghĩa dân tộc và quyền phụ nữ thành hiện thực. Dù thế hệ phụ nữ này phần lớn đã qua đời, ký ức về họ vẫn còn không phai mờ trong trang phục; giáo dục; và niềm vui trẻ trung, không hề phai nhạt của tất cả phụ nữ Việt Nam. Theo một cách nào đó, tất cả chúng ta đều có thể là cô gái mới.”

***

Sau đây là cuộc trò chuyện giữa Julia Đỗ và nhật báo Người Việt:

Người Việt (NV): Xin chào Julia Đỗ. Chúc mừng luận văn tốt nghiệp của em. Cảm ơn em đã nhận lời chia sẻ thêm về  “Con Gái, Con Đứa!” Vì sao em chọn đề tài này? Và đây là ý tưởng duy nhất hay một trong nhiều lựa chọn của em?

Julia Đỗ: Dạ vâng. Trường của em, Harvard, là trường khá truyền thống hơn những trường khác. Họ muốn sinh viên chuẩn bị sớm nếu muốn theo đuổi ngành học thuật nào đó ở cấp cao hơn, như cao học chẳng hạn. Do vậy trường em rất coi trọng luận án. Từ năm thứ hai trường đã yêu cầu sinh viên suy nghĩ về chủ đề của luận án. Quá trình làm rất lâu, vài năm.

Ngay từ đầu em đã biết là mình thích dân tộc học, lịch sử của người Châu Á. Thêm nữa là em cũng thích nghiên cứu về giới tính học, bởi vì dù mình sinh ra ở Mỹ, mình vẫn là người Việt Nam. Cho nên em thấy cách (xã hội) đối với hai giới tính nam và nữ ở Việt Nam và Mỹ rất khác nhau. Có lẽ cũng là nữ nên từ nhỏ em đã có nhiều câu hỏi trăn trở về điều này. Sau đó thì em nghĩ rằng, là nữ, mình có một cách đặc biệt để tìm hiểu về đề tài này mà phái kia không có. Nên em đã chọn đề tài này.

Bà ngoại Vũ Thu Hà của tác giả ngồi cùng những người bạn. Hình chụp năm 1950. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Người Việt (NV): Có nguyên nhân đặc biệt nào, hay ảnh hưởng từ nhân vật nào, như bố mẹ, ông bà chẳng hạn, để em thích nghiên cứu về dân tộc học và giới tính?

Julia Đỗ: Em nghĩ chắc một phần vì bố của em là phóng viên nên hồi nhỏ em có nhiều thời gian ở tòa soạn của báo Người Việt. Rồi khi lớn lên một chút, bố đón em sau giờ học, vì không thể chở về nhà ngay nên em thường ở văn phòng của Người Việt trong buổi trưa. Và đặc biệt là em rất gần gũi với bà ngoại. Em nghĩ là vì những điều kiện đó mà em được biết nhiều giá trị văn hóa của người Việt, cần phải lan tỏa.

Người Việt (NV): Julia có thể chia sẻ vài câu chuyện giữa em và bà ngoại, những câu chuyện đã khiến em có một tình cảm về văn hóa, truyền thống của người Việt?

Julia Đỗ:  Em nhớ là bà kể về Đệ Nhị Thế Chiến, khi người Nhật đánh vào Hà Nội. Bà ngoại có rất nhiều câu chuyện rùng rợn. Bà kể cho em nghe những câu chuyện khi chạy trốn khỏi bom đạn, chạy vào hầm trú bom cùng mẹ của bà. Và em nghĩ điều làm em ấn tượng nhất, đó là tầm quan trọng, vai trò thiết yếu của người phụ nữ. Bà kể cuộc sống khi vào Sài Gòn, bà làm việc ở Bộ Thông Tin Việt Nam CộngHòa. Bà kể cho em về Bà Nhu, như, bà ấy đẹp thế nào nhưng cũng rất “dữ” như thế nào.

Em nghĩ, lịch sử về phái nữ bị coi là thứ yếu so với một lịch sử mà trong đó hình ảnh người đàn ông luôn chiếm ưu thế. Nếu chúng ta mở một cuốn sách sử, luôn chỉ toàn là những nam anh hùng, nam quân nhân và tổng thống cũng nam giới. Sự gần gũi của em với bà ngoại đã mở ra cho em những suy nghĩ về vai trò của phụ nữ, vốn diễn ra cùng một lúc trong lịch sử nhưng không ai nói về điều đó.

Người Việt (NV): Em đã thực hiện luận án này như thế nào? Chắc chắn phải là một thời gian đắm chìm trong nghiên cứu, đi lại nhiều nơi, nói chuyện với nhiều người, đúng không?

Bà cố của Julia Đỗ, bà Hoàng Thị Vân Nhung. Hình chụp năm 1930. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Julia Đỗ: Đúng là như thế. Em đã tìm đọc các tài liệu trong thư viện Harvard và cả các bài viết trên Người Việt online. Em cũng về Hà Nội với mẹ em năm ngoái. Em nói chuyện với các cô, dì, các bà bên họ của bà ngoại. Em đã đến thăm Bảo Tàng Mỹ Thuật ở Sài Gòn, đó là nơi em tìm thêm cảm hứng cho luận án của mình.

Nơi đó có một khu trưng bày dành riêng cho họa sĩ Lê Thị Lựu mà em đã nói đến trong Chương II của luận văn. Một nghệ sĩ nổi tiếng! Nữ! Việt Nam! Và em thấy thật thú vị khi bà ấy được triển lãm tại bảo tàng đó, cùng với nhóm phụ nữ gái mới, nhóm văn chương. Em cũng tìm đọc những học giả Việt Nam học như bà Đặng Thị Vân Chi, người viết rất nhiều về vai trò của phụ nữ thế kỷ 20 ở Việt Nam.

Người Việt (NV): Em đặt tên cho Chương III là Publishing Gái Mới. Có phải ý em muốn nói rằng thời điểm này, hình ảnh gái mới thể hiện rõ nhất? Hay nói cách khác, có rất nhiều phụ nữ trẻ đã sẵn sàng vượt qua những rào cản để tìm đến thẩm mỹ của họ?

Julia Đỗ: Em cho rằng đó là thời điểm, và em dùng từ “siêu thị giác” hay “hiển thị rõ ràng nhất” trong chương đó.Vậy nên chắc chắn đó là thời điểm mà thẩm mỹ được nhận thức rõ ràng nhất trong lịch sử Việt Nam. Và lý do em nghĩ điều đó thú vị là vì nó trái ngược với các quốc gia khác như Nhật Bản hay các trung tâm đô thị khác như Thượng Hải hay Hong Kong, xu hướng này dường như xuất hiện ở Việt Nam muộn hơn một chút.

Có thể nói là họ được chấp nhận. Em nghĩ đã có một số thay đổi trong xã hội khiến hình ảnh này được chấp nhận rộng rãi hơn. Với sự bùng nổ của Đệ Nhị Thế Chiến, cũng như với các cường quốc đồng minh, các cường quốc phương Tây, em nghĩ chắc chắn người Việt Nam muốn gắn kết mình với hình ảnh tư bản phương Tây hơn.

Người Việt (NV): Điều làm cho em tự hào nhất về luận văn này là gì?

Julia Đỗ: Em nghĩ điều em tự hào nhất về luận văn của mình là có thể kết hợp rất nhiều ngành học và rất nhiều lý thuyết hàn lâm khác nhau vào cùng một sản phẩm. Em rất yêu thích truyền thông và những buổi hội đàm. Em nghĩ điều đó có thể liên quan đến việc em lớn lên trong môi trường báo chí, trong phòng tin tức.

Có rất nhiều phân tích về văn học và truyền thông, nhưng em cũng là người rất thiên về thị giác. Em thích vẽ. Vì vậy, em có thể kết hợp nhiều lý thuyết thị giác và phân tích các yếu tố thị giác, điều mà em nghĩ cũng rất quan trọng. Và em nghĩ mình sẽ giải thích điều này trong Chương I, bởi vì việc thể hiện phụ nữ và phái nữ, giới tính nữ, rất liên quan đến hình ảnh.

Do đó, em nghĩ việc có thể nói về hình ảnh thị giác và tác phẩm nghệ thuật khi chúng ta nói về một điều gì đó cụ thể dành cho phụ nữ là rất quan trọng.

Người Việt (NV): Về phương diện cá nhân, tôi đồng ý với Julia điều này. Nói nhỏ với em là tôi thích nhất Chương I, trong tổng thể ba chương.

Câu hỏi cuối dành cho em: Sau thời gian nghiên cứu và viết luận văn, em có nghĩ em là một gái mới của thế kỷ 21 không?

Julia Đỗ ôm hình của bà ngoại Vũ Thu Hà trong ngày tốt nghiệp Harvard. (Hình: Julia Đỗ cung cấp)

Julia Đỗ: Em nghĩ một phần quan trọng khiến em nghĩ gái mới lại quan trọng đến vậy là vì nó là hiện thân của niềm vui trong một thời đại mà niềm vui ít hiện diện trong cuộc sống. Và em nghĩ, một phần quan trọng của thẩm mỹ gái mới thời bấy giờ, hay của cả trào lưu thời bấy giờ, là nó kết hợp các yếu tố trí tuệ và cộng đồng, thay vì chỉ đơn thuần là theo một vẻ bề ngoài bắt buộc hoặc phải mặc những bộ quần áo theo tiêu chuẩn nhất định.

Đó là cách phụ nữ của một tầng lớp trong xã hội tin rằnghọ có thể tốt hơn. Thật khó để nói em là gái mới vì em nghĩ tất cả phụ nữ ngày nay đều như vậy, là gái mới. Và sự tiến hóa bây giờ là của những gì đã thúc đẩy từ thời điểm đó.

Ý em là xu hướng phụ nữ hiện đại trên toàn cầu bắt đầu vào khoảng năm 1910. Em nghĩ rất nhiều phong trào cộng sản đã xuất hiện như một hệ quả của những gì đã xảy ra vào đầu thế kỷ 20. Chúng ta là một sự tiến hóa tự nhiên của những gì đã xảy ra, tất yếu từ phong trào trong lịch sử.

Do đó, có lẽ em không nói mình là gái mới theo nghĩa một người hoàn toàn chạy theo phong trào AI hay sự phát triển chóng mặt của công nghệ. Nhưng em muốn nói rằng tất cả chúng ta đều là những cô gái hiện đại nhờ những nỗ lực mà những phụ nữ này đã thực hiện vào thời điểm đó. Sau những năm 1950, tất cả chúng ta đều trở thành những cô gái hiện đại.

Người Việt (NV): Cảm ơn Julia Đỗ về cuộc trò chuyện này. Chúc em tiếp tục thành công và luôn hạnh phúc như một cô gái mới của gia đình và công việc.

————–

(*) Bài đã đăng trên Giai Phẩm Xuân Người Việt Bính Ngọ 2026

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT