Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 67)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 67


 


Gã kéo dài chữ cuối cùng với xiết bao thiểu não đến nỗi tôi phải thương hại gã.


Tôi không có thuốc lá, tôi muốn cho gã tiền. Nhưng gã mục đồng phát cáu.


– Cho tiền về cái nhà bò! Gã la lên. Tôi làm gì bằng tiền mới được chứ? Tôi nói với ông rằng tôi đã chán tất cả. Tôi muốn một điếu thuốc lá kia!


– Tôi không có thuốc lá, tôi tuyệt vọng nói. Tôi không có một điếu nào cả.


– Ông không có thuốc lá! Gã điên tiết lấy cây gậy đập xuống đất. Không có thuốc lá! Ðược rồi, thế ông có cái gì trong túi kia? Túi phồng lên vì cái gì trong đó?


– Một cuốn sách, một cái khăn tay, giấy, một cái bút chì, một con dao díp, tôi vừa trả lời vừa lần lượt chìa những đồ vật trong túi ra. Em có thích con dao díp này không?


– Tôi có một con rồi. Tôi có tất cả: bánh mì, phô-mai, ô-liu, một con dao, một cái dùi, da làm giầy và một bình nước, tất cả, tất cả… trừ một điếu thuốc lá! Và như thế hầu như tôi không có gì hết! Còn ông, ông tìm gì trong đống đổ nát này?


– Tôi khảo cứu cổ vật.


– Ông có rút được lợi ích gì không?


– Không.


– Không. Tôi cũng vậy. Họ chết cả rồi, chúng ta sống. Tốt hơn ông nên đi ngay đi thì hơn!


Có thể nói linh hồn u hiển nơi này xua đuổi tôi.


– Tôi đi đây, tôi ngoan ngoãn nói.


Tôi vội vã trở lại đường mòn với một chút xao xuyến trong tâm hồn.


Lát sau tôi quay lại và thấy gã mục đồng phiền muộn đang đứng trên một tảng đá. Mái tóc quăn của gã xõa khỏi tấm khăn tay đen, đang phất phơ trong gió nồm. Ánh sáng dội tràn từ đầu xuống chân gã. Tôi có cảm tưởng nhìn thấy pho tượng một thanh niên bằng đồng. Ðã đặt cây gậy ngang vai và huýt sáo.


Tôi đi sang một con đường khác và đi xuống bãi biển.


Thỉnh thoảng, những đợt gió nhẹ, ấm áp và thơm ngát từ các vườn gần đó thổi tới tôi. Ðất dâng hương, biển cười và dài, trời xanh và lóng lánh như thép.


Mùa đông làm tâm hồn và thân thể teo lại, nhưng đây rồi hơi ấm đến làm căng lồng ngực. Tôi tiến lên, thình lình tôi nghe thấy những tiếng kèn lớn trên không. Tôi ngẩng đầu lên và nhìn cảnh tượng tuyệt vời khiến tôi xúc động mãnh liệt từ hồi thơ ấu: Ðàn hạc dàn trải ra ngang trời như một đạo quân xáp chiến, từ miền ấm áp trở về, và, như thần thoại kể, mang những con én trên cánh và trong thân thể gầy trơ xương của chúng.


Tiết điệu không sai trệch của bốn mùa, bánh xe quay muôn đời của trần gian, bốn mặt của trái đất lần lượt được mặt trời soi sáng, nhịp đi của đời tất cả những điều đó một lần nữa lại cho tôi một cảm giác đè nén nặng nề. Cùng với tiếng hạc bay qua, một lần nữa lại vang vọng trong tôi lời cảnh tỉnh khủng khiếp rằng chỉ có một cuộc đời duy nhất cho con người, rằng không có một cuộc đời khác, và tất cả những gì người ta có thể hân hưởng, người ta phải hân hưởng ngay ở nơi đây. Không có một dịp may nào khác dành cho chúng ta trong vĩnh cửu.


Một tâm trí nghe thấy lời cảnh cáo tàn nhẫn này – một lời cảnh cáo tàn nhẫn và đồng thời đầy thương xót – sẽ quyết định chiến thắng hay yếu đuối và ti tiện, sự lười biếng và những hy vọng vĩ đại hão huyền của mình và sẽ bám riết vào mỗi giây phút đang chạy trốn mãi mãi.


Những tấm gương lớn trở lại trong trí nhớ và người ta thấy rõ ràng người ta chỉ là một linh hồn đã mất, cuộc đời tả tơi theo những lạc thú nhỏ nhoi, những đau khổ vụn vặt và những chuyện phù phiếm. Người ta muốn kêu lên: “Xấu hổ lắm,!” và bặm môi.


Những con hạc đã bay qua vòm trời và mất hút về phương Bắc, nhưng trong đầu tôi, chúng vẫn tiếp tục bay từ thái dương nọ sang thái dương kia, thốt lên những tiếng kêu bằng cái giọng ồ ồ của chúng.


Tôi đến bờ biển. Tôi vội vã đi dọc theo mé nước. Kinh sợ thay khi đi một mình bên bờ biển! Mỗi đợt sóng, mỗi cánh chim kêu gọi ta và nhắc nhở ta tới bổn phận. Khi đi với đông người, ta nói nói cười cười và tiếng ồn ào che lấp tiếng sóng và tiếng chim kêu. Dĩ nhiên có thể chúng không nói gì hết. Chúng ngắm ta đi qua, khỏa lấp trong câu chuyện và chúng im hơi.


Tôi nằm dài trên sỏi, nhắm mắt lại. “Vậy linh hồn là gì? Tôi nghĩ, và giữa linh hồn, biển, mây và hương thơm, có sự tương ứng bí mật nào? Dường như linh hồn tự nó cũng là biển, mây và hương thơm…”


Tôi đứng dậy và bắt đầu bước đi như thể tôi đã quyết định. Quyết định nào? Tôi không rõ.


Thình lình tôi nghe thấy một tiếng nói sau lưng:


– Ông đi đâu đó, ông chủ? Ông cũng tới tu viện?


Tôi quay lại một ông già tráng kiện, thấp, buộc một tấm khăn tay đen quanh mái tóc trắng, vừa vẫy tôi vừa cười. Một bà cụ đi sau lão, và sau bà cụ là cô con gái họ, một thiếu nữ da ngăm đen, cặp mắt dữ tợn, chít khăn choàng đen.


– Tới tu viện? Lão già hỏi lại lần thứ hai.


Ðột nhiên tôi ý thức được rằng tôi quyết định đi về phía đó. Từ mấy tháng nay, tôi muốn tới tu viện nhỏ bé của các nữ tu sĩ xây bên bờ biển, nhưng chưa bao giờ quyết định dứt khoát. Quyết định này, chiều nay thân thể tôi đột ngột thực hiện cho tôi.


– Vâng, tôi trả lời, tôi tới tu viện để nghe tụng ca Ðức Mẹ Ðồng Trinh.


– Cầu Ðức Mẹ ban phước lành cho ông!

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT