Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 89)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 89


 


– Nào, nói tiếp đi, nói cho rõ ràng, Zorba đừng lảng tránh câu hỏi! Tôi nói để khiêu khích hắn. Tôi chắc bác chẳng bận tâm bao nhiêu với tổ quốc, đồ giá áo túi cơm!


Hắn nổi giận đấm một cú vào vách làm những bi đông sắt kêu loảng xoảng. Hắn la lên:


– Người đứng trước mặt ông đây xưa đã có lần rứt tóc để thêu nhà thờ Saint-Sophia đeo trước ngực làm bùa hộ mệnh. Vâng, ông chủ, tôi đã thêu bằng những bàn tay hộ pháp vụng về này và bằng những sợi tóc này, vào thời đó, đen như mun. Tôi, người đang nói với ông đây, thường lang thang trong những rặng núi đá ở Maccedonia với Pavlos Melas (*) – lúc đó tôi là một gã khổng lồ, cao hơn cả lều này, với váy ngắn, mũ fez đỏ, đồ trang sức bằng bạc, bùa hộ mệnh, Yataghan (**) bao đạn và súng lục. Tôi trang bị đầy sắt, bạc và đinh. Khi tôi đi, nó phát ra tiếng kêu xoang xoảng như cả một đạo quân xuống phố! Này, nhìn đây! Nhìn đây!


Hắn cởi áo chemise và tụt quần xuống.


– Ðem đèn lại đây! Hắn ra lệnh.


Tôi mang đèn lại gần tấm thân gầy gò và rám nắng: với những vết sẹo sâu hoắm, vết đạn và những lát kiếm, thân thể hắn đúng là một cái rá lọc.


– Nào bây giờ nhìn phía bên kia!


Hắn quay lại và chìa cho tôi xem lưng.


– Không có ngay cả một vết xước trên lưng. Ông hiểu gì không? Thôi bây giờ đem đèn đi.


– Chuyện tầm bậy vô nghĩa! Hắn tức tối gào lên. Thật nhục nhã! Khi nào người đàn ông sẽ thực sự trở nên một người đàn ông? Chúng ta mặc quần chùng áo-lượt, cổ cồn, mũ mãng nhưng chúng ta vẫn là con lừa, con sói, con cáo, con lợn. Người ta nói chúng ta được dựng lên theo hình ảnh của Thượng Ðế! Ai? Chúng ta à? Khoác lác phỉnh gạt!


Những kỷ niệm kinh hoàng hình như trở lại tâm trí hắn và mỗi lúc hắn một trở nên tức tối thêm. Hắn lẩm bẩm qua hàm răng lung lay trống hổng những lời nói khó hiểu.


Hắn đừng dậy, vồ lấy bình nước, tu một hơi, sau đó hắn có vẻ tỉnh táo và dịu dần. Hắn nói:


– Bất cứ chỗ nào ông đụng tới tôi, tôi đều đau đớn muốn thét lên. Người tôi đầy vết thương, sẹo và cục u và ông nói với tôi về đàn bà! Khi tôi khám phá tôi thực sự là một người đàn ông, tôi không thèm quay lại để nhìn họ nữa. Tôi đụng chạm tới họ một phút, như vậy đó, qua đường, như một con gà trống, rồi tôi lại tiếp tục đi. Tôi tự nhủ: “Những con chồn hôi bẩn thỉu. Chúng muốn hút hết sinh lực của ta. Khiếp! Cho chúng đi về cái nhà bò đi!”


“Ðoạn tôi vác súng lên đường! Tôi đi vào chiến khu như một giải phóng quân comitadji. Một hôm, vào lúc nhọ mặt người, tôi vào một làng Bảo-Gia-Lợi và nấp vào một chuồng bò. Ðó chính là nhà của một tên tư tế, một tên biệt động quân comitadji khát máu, dã man. Ban đêm, hắn cởi bỏ áo thầy tu, mặc quần áo kẻ chăn chiên, đeo khí giới và xâm nhập những làng Hy Lạp lân cận. Hắn trở về trước khi trời sáng, gọt sạch bùn và máu và vội vã đến nhà thờ đọc lễ Mi-sa cho tín đồ. Trước đó mấy hôm hắn đã giết một giáo viên Hy Lạp đang ngủ trong giường. Bởi vậy tôi vào chuồng bò tên tư tế, nằm trên đống phân, sau hai con bò và chờ đợi. Vào lúc sẩm tối, tên thầy tư tế vào chuồng bò cho mấy con vật của hắn ăn. Tôi chồm lên hắn và chọc tiết hắn như chọc tiết một con cừu, cắt tai hắn bỏ vào túi. Tôi sưu tầm tai Bảo-Gia-Lợi, ông rõ chưa; bởi vậy tôi lấy tai tên thầy tư tế và tẩu thoát.


“Mấy hôm sau tôi trở lại chính làng đó, giữa trưa, giả dạng làm một người bán hàng rong. Tôi giấu vũ khí trong núi và tôi xuống làng mua bánh, muối và giầy cho các đồng chí của tôi. Trước một căn nhà, tôi trông thấy năm đứa con nít mặc quần áo đen, đi chân đất nắm tay nhau đi ăn xin. Ba đứa con trai. Ðứa lớn nhất không quá mười tuổi, đứa nhỏ nhất, hãy còn ẵm. Ðứa con gái lớn ôm nó trong tay, hôn nó và nựng nó để nó khỏi khóc. Tôi không hiểu tại sao và có lẽ do thiên khải, tôi lại gần chúng: “Các cháu là con cái nhà ai? Tôi hỏi chúng bằng tiếng Bảo-Gia-Lợi.


“Ðứa con trai lớn nhất ngẩng cái đầu nhỏ bé lên: “Con thầy tư tế mà người ta cắt cổ hôm nọ trong chuồng bò,” nó trả lời.


“Nước mắt tôi giàn giụa. Trái đất quay cuồng như cái chong chóng. Tôi dựa lưng vào tường và nó ngừng lại. ‘Lại đây, các cháu, tôi nói, lại gần đây.’”


“Tôi lần thắt lưng móc túi tiền ra; nó đầy tiền Thổ Nhĩ Kỳ, medjidie. Tôi quì xuống và đổ hết tiền trên mặt đất. ‘Này, lấy đi! Tôi la, lấy đi! Lấy đi!’”


“Những đứa trẻ ngồi thụp xuống đất và lượm những đồng tiền Thổ và medjidie. ‘Cho các cháu đó, cho các cháu đó! Tôi la, lấy hết đi!’”


“Ðoạn tôi để lại cho chúng cái giỏ với tất cả những thứ tôi đã mua: ‘Tất cả những cái này nữa, cho các cháu đó! Lấy tất cả đi!’”


“Và tôi chuồn thẳng. Tôi chạy ra khỏi làng, cởi áo chemise ra, nắm lấy nhà thờ Saint-Sophia tôi đã thêu, xé ra từng mảnh, tung lên trời và vắt giò lên cổ chạy.


“Và tôi vẫn còn chạy…”


(*) Một sĩ quan xuất sắc trong trận chiến tranh chống lại những Comitadjis Bảo Gia Lợi.


(* *) Trường kiếm Thổ Nhĩ Kỳ – N.H.H.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT