Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 92
Chúng tôi đi tới cái hố đào gần biển để trồng trụ cột thứ nhất. Thợ thuyền nâng một thân cây thông lớn và trồng nó thẳng trong hố. Thầy tư tế Stephanos mặc áo choàng lễ, cầm bình hương, chăm chú nhìn thân cây và bắt đầu đọc thần chú: “Cầu cho nó được trồng trên một tảng đá vững chắc để không gió và nước nào có thể làm nó lung lay… Amen!”
– Amen! Zorba vừa rống lên vừa làm dấu.
– Amen! Những hương mục lẩm bẩm.
– Amen! Thợ thuyền nói sau cùng.
– Cầu Chúa ban phước lành cho công việc của các con và cho các con của cải của Abraham và Isaac! Thầy tư tế Stephanos chúc, và Zorba dúi vào tay lão một tờ giấy bạc.
– Ta ban phước lành cho ngươi! Thầy tư tế mãn nguyện nói.
Chúng tôi trở lại lều. Zorba tiếp họ rượu vang và những món ăn tuần chay – mực ma rang, bạch tuộc rán, dầu ngâm ô-liu. Sau khi đã ăn uống no say, những quan viên chậm rãi đi dọc theo bờ biển trở về. Nghi lễ pháp thuật đã chấm dứt.
– Chúng ta tổ chức hay đấy chứ! Zorba vừa nói vừa xoa tay vào nhau.
Hắn cởi quần áo, khoác bộ quần áo làm việc lên và vớ lấy một cuốc chim. Hắn quát bọn thợ:
– Nào, các bạn! Làm dấu đi rồi làm việc!
Suốt ngày, Zorba không ngẩng đầu lên. Hắn say sưa với công việc. Cứ năm mươi thước, bọn thợ lại đào một cái hố và chôn một cây cột, làm thành một đường thẳng hướng về phía đỉnh núi, Zorba trắc lượng, tính toán và ra lệnh. Cả ngày hắn không ăn, không hút, không nghĩ. Hắn hoàn toàn miệt mài trong công việc. Hắn thường nói với tôi:
– Chính bởi người ta làm việc nửa vời, diễn tả tư tưởng nửa vời, tội lỗi hay thánh thiện nửa vời mà thế giới mới ở trong tình trạng hỗn loạn như ngày nay. Hãy đi đến cùng, đập dữ dội vào, đừng sợ hãi và bạn sẽ chiến thắng. Thượng Ðế ghét tên bạn – quỉ sứ hơn tên thượng đẳng – quỉ sứ gấp một triệu lần!
Buổi tối sau khi làm việc trở về, hắn nằm dài trên cát, mệt lả. Hắn nói:
– Tôi sẽ nằm ngủ tại đây trong khi chờ đợi rạng đông và chúng tôi sẽ làm việc trở lại. Tôi sắp cắt toán làm việc đêm.
– Tại sao phải hấp tấp vậy, Zorba?
Hắn lưỡng lự một lát.
– Tại sao ư? À, tôi muốn biết độ dốc tôi tìm có đúng không. Nếu không đúng, chúng ta lúa đấy, ông chủ. Càng biết sớm chừng nào càng hay cho chúng ta chừng ấy, ông thấy không?
Hắn ăn uống vội vàng, hau háu, rồi, lát sau bãi biển vang lên tiếng ngáy như sấm động của hắn. Còn tôi, tôi thức khá lâu, theo dõi cuộc du hành của những vì sao qua bầu trời. Tôi thấy cả bầu trời từ từ thay đổi vị trí cùng với tất cả những chùm tinh tú của nó – và sọ tôi, tựa đỉnh đài quan sát, cũng di động theo, đồng thời với những chùm sao. “Hãy chiêm ngắm đường đi của tinh tú như thể bạn cũng cùng quay theo chúng…” Câu trên của Marcus Aurelius khiến tâm hồn tôi ngập tràn hòa điệu.
21
Hôm nay là ngày lễ Phục Sinh, Zorba chải chuốt bảnh bao. Hắn đi đôi vớ len dầy mầu hoa cà mà theo lời hắn, là của một trong những mụ tình nhân ở Macedonia đan cho. Hắn lo lắng đi đi lại lại trên một đụn cát gần bãi của chúng tôi. Ðưa tay lên trên hàng lông mày rậm, hắn ngong ngóng trông về phía làng xa.
– Mụ đến chậm quá, con hải cẩu già; mụ đến chậm quá, con đàn bà lẳng lơ; mụ đến chậm quá, lá cờ cũ tả tơi…!
Một con bướm non bay phấp phới và muốn đậu lên ria Zorba; nhưng hắn nhột, khịt khịt mũi và con bướm bình thản bay đi, mất hút trong ánh mặt trời.
Hôm nay, chúng tôi chờ đợi mụ Hortense đến để mừng lễ Phục Sinh với mụ. Chúng tôi đã cho quay một con cừu, trải một tấm vải trắng trên bãi cát, nhuộm vài trái trứng. Nửa đùa cợt, nửa trang nghiêm, chúng tôi dành cho mụ một cuộc tiếp đãi trọng vọng. Trên bãi biển cô liêu này, mụ ngư nữ mập lùn, phấn son ngào ngạt, hơi vữa ra này gieo trên chúng tôi một vẻ lôi cuốn kỳ lạ. Khi mụ vắng mặt, chúng tôi cảm thấy hình như thiếu một cái gì – một mùi eau de Cologne, một chấm đỏ, một dáng đi nhún nhẩy, đong đưa như dáng một con vịt bầu, một giọng nói khàn khàn và hai con mắt xanh mờ đục.
Chúng tôi chặt hai cành đào kim-nhưỡng và nguyệt quế và dựng lên một khải hoàn môn mà mụ phải đi qua. Trên khải hoàn môn, chúng tôi cắm bốn lá cờ ố Anh, Pháp, Ý, Nga – và ở giữa, trên cao, một tấm vải trắng sọc xanh. Chúng tôi không có súng thần công vì không phải là thủy sư đô đốc, nhưng chúng tôi đã mượn hai cây súng trường và định ngồi trên đụn cát chờ khi nào con hải cẩu già của chúng tôi vừa núng na núng nính xuất hiện trên đường là chúng tôi nhất tề bắn một loạt. Chúng tôi muốn làm hồi sinh trên bãi biển cô liêu này một cái gì của dĩ vãng vàng son của mụ, để mụ đáng thương đó sống giây lát trong ảo tưởng và tưởng mình lại trở thành một thiếu phụ trẻ trung môi hồng với bộ ngực rắn chắc, giầy ban bóng lộn và tất lụa là. Sự Phục Sinh của Chúa có giá trị gì nếu nó không phải là dấu hiệu hồi sinh của tuổi trẻ và niềm hân hoan trong chính chúng ta? Nếu nó không thể khiến cho một mụ đàn bà hoa nguyệt tìm thấy lại tuổi đôi mươi!



























































































