Kỳ 20
Khi ra về ông đô Cán mới giật mình lo lắng nghĩ thầm hẳn bạn mình đã tự bấm số trước biết không tránh được số trời nên mới nghĩ đến đặt tên hiệu. Và lòng ông đô Cán rưng rưng.
Ðược lúc tĩnh tâm nào. Ông nghĩ câu đối viếng bạn.
Những tưởng ngày một ngày hai ông đồ Thinh mất, nào ngờ ông đồ khỏe trở lại, đôi bạn còn gặp nhau nhiều để tiếp tục thảo luận về tử vi. Kể những câu thơ bàn về tử vi ông đồ đọc nhiều lắm nhưng cậu bé Chủy – năm đó lên bảy – chỉ nhớ được độc có một câu mà cậu cho là lý thú lắm:
Sao Thai mà ngộ Ðào Hoa
Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.
Ðúng vào lúc không ngờ nhất thì ông đô Cán được hay tin ông đồ Thinh mất. Tên hiệu “Thái Nhất tiên sinh” đặt trước thấm thoắt đã năm năm.
Trong hàng đối trướng dài nườm nượp của bà con bạn hữu xa gần phúng ông đồ có chiếc trướng của ông đô Cán. Ông đô Cán đã tôn việc xem tử vi của người bạn quá cố lên thành một thứ đạo, ông dùng bốn chứ của Từ Cán đời Lục Triều để ca ngợi bạn trong lời ai điếu:
KỲ ÐẠO DO TỒN
Ý ông muốn nói: ông đồ Thinh tuy chết đi nhưng đạo tử vi của ông sẽ mãi mãi trông đám môn sinh.
Ông đồ mất, Chủy lên tám, học trò có họp đồng môn làm ma linh đình, nhưng sau đó bà đồ sống lần hồi trong cảnh túng bẩn. Sau cùng, cực chẳng đã bà đành cho Chủy sang làng bên – quê bà – đi chăn bò cho một điền chủ là cháu họ gọi bà bằng cô. Ngày ngày Chủy phụ trách chăn một con bò đen tuyền và một con bê vàng đốm trắng. Chùy rất ưa con bò đen hung hăng này; trên bờ sông máng hễ gặp con bò khác nó thường xông tới húc liền kỳ cho đối phương bỏ chay, nhiều con vì hốt hoảng tránh nó mà lăn xuống sông máng. Cũng vì con bò đen hung hãn này mà thường xảy những vụ xô xát giữa Chủy với lũ mục đồng cùng lứa tuổi, nhưng vì sức Chủy vạm vỡ nên mỗi khi có cuộc ẩu đả phần thắng thường về Chủy. Sau phút chiến thắng, Chủy cười hềnh hệch ngồi ngất nghểu trên lưng bò tay cầm sợi chỉ dài buộc con cánh cam giựt giựt cho nó bay vù vù trước mặt và ca lớn câu đồng dao:
Bò đen húc lẫn bò vàng
Ðể cho bò trắng lăn quàng xuống sông.
Sớm sớm Chủy thường tìm bắt một con cánh cam buộc vào sợi chỉ dài làm đồ chơi cầm tay suốt ngày; về chiều khi con cánh cam đã mệt là giựt không buồn bay nữa, Chủy đặt nó xuống đất, dí mạnh gót chân lên, lắng tai nghe tiếng vỡ vạn của đôi cánh cứng cùng thân thể con vật khốn nạn, khi nhấc gót chân sang bên Chủy khoan khoái nhìn xuống con vật đã bị nát bét, phần dưới tiết ra một chất nước vàng bầy nhầy. Mỗi lần dí gót chân như vậy Chủy nghe xao động trong tiềm thức sức mạnh của bản năng phá hoại và dường như còn vương chút tình cảm hãnh tiến của kẻ thấy mình nắm được quyền sinh sát trên một sinh vật.
Ðêm đêm Chủy có cắp sách đi học A.B.C. Vì sáng ý chẳng bao lâu Chủy biết đọc, biết viết, làm tính. Năm mười bốn tuổi Chủy về sống với mẹ. Bà đồ vẫn nghiêm khắc với con nhưng Chủy cũng biết sau bề ngoài nghiêm khắc đó, mẹ thương mình rất nhiều. Tính từ mẫu dường như có làm yếu khuynh hướng phá hoại và tình cảm hãnh tiến bên trong Chủy. Rồi trên mười năm ròng Chủy đem hết mực ra giúp mẹ mọi việc đồng áng khó nhọc: đó là ưu điểm thứ nhất của Chủy về chữ hiếu. Chủy thuộc rất nhiều ca dao câu ví, trong khi làm lụng ngoài đồng Chủy vẫn hát đối đáp với các cô gái cùng làng. Chỉ những lúc cách ngỡ như vậy là các cô giữ được cảm tình với Chủy, tới lúc đôi bên gần nhau Chủy hay giở trò cợt nhả thô tục bị các cô cự nự. Các cô gọi riễu Chủy là “anh Trưởng Vổ.” Dáng người vạm vỡ, khuôn mặt không đến nỗi xấu duy có bộ răng vổ làm Chủy thất thế trước ái tình. Trong trường hợp bị xúc phạm, nhiều lúc dùng những câu khá chanh chua. Chuyện đó đến tai bà đồ, bà lồng lộn lên xỉa xói vào mặt Chủy: “Cha tiên nhân nhà mày, mày có thèm cái đậu rán để bà mua về cho mày, việc gì mày phải giở trò khốn nạn để bêu riếu bà.” Bị mẹ mắng, Chủy biết lỗi im lặng: đó là ưu điểm thứ hai của Chủy về chữ hiếu. Nhưng rồi sau đó, chứng nào vẫn tật ấy! Ðồng thời với cái xỉa xói: “Cha tiên nhân nhà mày, mày có thèm cái đậu rán để rồi bà mua về cho mày!” Bà đồ đi ướm hỏi mấy cô gái cùng làng cho Chủy, nhưng vì có lẽ vì Chủy có thành tích bất hảo quá, lại thêm danh từ “Trưởng Vổ” đã quá phổ biến trong làng nên các cô gái đến tuổi đều một mực từ chối, bà đồ đành tính chuyện hỏi vợ cho Chủy ở làng bên – quê bà – công việc chưa thành thì bà bị bệnh – bệnh già – rồi mất. Ðó là vào khoảng 1943-44 gì đó.



























































































