“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 74
II
Dân chúng Văn Phú vẫn thường nhắc đến con hổ thọt đã tác họa cả vùng Tuyên Quang, Phú Tho, Yên Bái khoảng bốn mươi năm nay.
Khoảng mười năm đầu – hồi nó chưa bị thọt – riêng vùng này, có tới mười người bị nó vồ, như vậy trung bình mỗi năm một người bị nạn cọp. Rồi đồn điền Văn Phú được mở mang giồng chè, sơn và trầu, chủ đồn điền là một người Pháp ưa săn bắn. Con hổ bị ông rượt bắn trượt vào ngay năm đầu (khi ông vừa tới Văn Phú), nó thành hổ thọt từ đấy và xuất hiện luôn quanh vùng, có năm tổng số nạn nhân lên tới ba hoặc bốn người. Nó tăng cường hoạt động để trả thù? Tới đâu nó để lại hình tích: Ba vết chân lớn to bằng chiếc mũ và vết chân phải phía sau nhỏ như bông sen hàm tiếu.
Rồi những chuyện hoang đường được thêu dệt trong dân chúng. Người ta nói hổ thọt đã thành tinh, từng hiện hình người vẫy nạn nhân vào bụi rồi mới hiện thành hổ mà vồ. Có lần – vẫn theo truyền thuyết hoang đường của dân vùng này – nó bắt chước tiếng mẹ gọi con; người con “dạ” một tiếng, vội vã mở cửa ra, bị nó vồ liền và cấu ngay vào yết hầu (đã thành tinh nên vồ ai là nó biết cấu ngay vào yết hầu để hết kêu).
Bốn mươi năm qua… hổ thọt còn sống như thường. Hổ thành tinh hẳn không thể già yếu đi được, dân chúng nghĩ thế. Mà có già yếu thì nó đã biết lột để trở thành cường tráng như xưa.
Ðồng, Uy đâu có ngờ những chuyện về con hổ thọt thành tinh đó lại có chút ít liên lạc đến cái đầu hói của ân nhân chúng là bủ Tôn. Ngày đó bủ Tôn mới khoảng ba mươi tuổi, anh em bà con còn gọi là đoàn Tôn. “Ðoàn” là một chức vị trong hàng xã, ai cũng có thể bỏ tiền ra mua để được miễn tuần đinh, cũng như ở miền xuôi người ta mua “xã” mua “nhiêu”. Một hôm đoàn Tôn vào rừng hái củi được nửa chừng thì lên cơn sốt nhưng vẫn cố tiếp tục chặt cho đủ gánh. Anh Ðoàn lại không quên kiếm thêm ít măng tươi để lá nữa về nấu canh cho bầm (mẹ) xơi. Trời đổ cơn mưa lớn, sấm sét vang động cả cánh rừng; anh Ðoàn thấy ù tai, không phải vì sấm sét mà vì cơn sốt đã lên tới cực độ. Ðầu óc bỗng choáng váng, chân tay rời rã, Ðoàn Tôn chỉ còn kịp nhận thấy chiếc miếu nhỏ thấp thoáng gần đấy trong màn mưa, bèn gắng rảo bước lại nằm vật dưới mái hành lang hẹp. Anh Ðoàn ưỡn ngực oằn oại người và rên một cách sảng khoái. Anh Ðoàn thấy mình hiện thành con hổ trắng như chuyện Tiết Nhân Quý xưa ở nhà nàng Liễu Kim Huê. Anh đập đuôi gầm lên một tiếng vì trước mắt anh khi đó là con hổ thọt thành tinh. Loài hổ quái ác ăn thịt người thành tinh thì cao quý sao bằng bạch hổ? Anh gầm thêm một tiếng nữa rền vang thành sấm sét khiến con hổ thọt hoảng sợ chạy mất. Mệt, anh gục xuống, đầu vẫn bừng bừng nóng. Bỗng thấy lạnh trên đỉnh đầu, anh ngẩng lên, con hổ thọt đã trở lại lúc nào vừa thè lưỡi liếm. Anh đứng nhỏm lên hùng dũng và hiên ngang như một thiên tướng khoác bào trắng, anh quật đuôi, gầm một tiếng còn uy nghi hơn tiếng sét và làm lóe lửa một góc trời. Lần này hổ thọt chạy miết vào rừng sâu không còn dám thò mặt ra nữa. Tiếng rên ngớt dần cùng với cơn sốt. Chiều! Cơn mưa đã tạnh, chỉ còn tiếng con suối lên cao đương xoáy cuộn lao mình ra sông Thao.
Anh đoàn Tôn đứng dậy, tâm thần bàng hoàng, chân tay bải hoải. Quần áo anh ướt đẫm không phải vì nước mưa mà vì mồ hôi đổ ra trong cơn sốt như nung như nấu vừa qua. Anh đứng dậy, lảo đảo tới chỗ kiếm củi khi nãy. Chiếc dìu của anh bị bao phủ bởi một đống bọt trắng. “Hừm, nước dãi con hổ thọt chứ gì”! – Anh nghĩ.
Anh chỉ xách có cái rìu về. Bầm chờ anh ở cửa. Anh về nhà thay quần áo khô rồi nằm vật lên giường. Bầm nấu cháo cho ăn. Mồ côi cha từ nhỏ và là con một, anh vẫn được bầm thương chiều.
Ăn xong bát cháo, anh cúi đầu trầm ngâm một phút rồi mới nói:
– Bầm ạ, lúc nãy con gặp hổ thọt.
Bà cụ giật nẩy mình:
– Mày gặp hổ thọt? Mày không bị nó ăn thịt?
Nụ cười anh Ðoàn tuy mệt nhọc, nhưng bao hàm biết bao là kiêu:
– Lúc đó con đương lên cơn sốt, tướng tinh con xuất hiện thành Bạch Hổ. Hai lần hổ thọt đến gần, hai lần con gầm lên, lần thứ hai con hổ thọt chạy mất hút vào rừng. Nó liếm lên đầu con một cái.
Bà cụ chắp tay trước ngực:
– A di đà Phật, thì trước sau tao vẫn bảo là tao cầu tự được mày ở miếu Ðức Bà. Mày là con Ðức Bà. A di đà Phật, con Ðức Bà tướng tinh Bạch Hổ thì hổ thọt làm gì được?
(Miền này, ngay ven rừng cách bờ sông chừng một trăm thước, có chiếc miếu cổ thờ bà Âu Cơ, tương truyền dựng lên tự thời Lý cùng với chiếc miếu nữa ở Yên Bái.)



























































































