Bản bổ túc phản tỉnh thư thuật lại thời gian công tác trong trung đoàn Tây tiến, Hãng viết rất ngắn gọn, nhất là câu kết. Nếu nội dung không gồm những sự kiện cụ thể, người ta có thể ngờ là Hãng tỏ thái độ ngạo mạn, với đoàn thể.
Tiểu đoàn 150 của trung đoàn Tây tiến ngày đó đóng ở đồng điền Bát Cô cách Nho Quan chừng tám cây số. Công tác của chúng tôi là công tác kinh tế mạo hiểm: buôn thuốc phiện lậu. Vì đoàn thể mà làm, rủi bị bắt ở những nơi đoàn thể không tiện can thiệp vì “nhĩ mục quan chiêm” thì cá nhân chịu trách nhiệm trước tòa án. Lộ trình của chúng tôi như sau: từ Nho Quan qua Kim Tân tới Cảm Thủy theo đường bộ; từ Cảm Thủy qua La Hán tới Hồi Xuân theo đường thủy ngược dòng sông Mã, rồi sang Sầm Nứa. Mấy tháng đầu chúng tôi phải mua bạc hoa xòe (đồng bạc có hình bà đầm xòe) ở Phát Diệm, Phủ Lý vì người Lào chỉ chịu đổi thuốc phiện lấy bạc thật, về sau hết bạc hoa xòe chúng tôi cố thuyết phục họ lấy bạc giấy Ðông Dương. Khi đã qua La Hán, Hồi Xuân, tới những trạm liên lạc gần biên giới Lào-Việt, chúng tôi thường bị phục kích bao vây ban đêm, hỏa châu sáng rực, liên thanh nổ rền quát ngang bụi rậm. Có đồng chí tử thương đành bỏ xác lại, nhưng bạc hoa xòe, bạc Ðông Dương nhất định phải mang theo bằng được. Tới địa phận Sầm Nứa nhiều khi chờ hai tuần mới có hàng, phải ăn sắn phơi khô trừ bữa. Kiết lỵ và sốt rét là hai bệnh thông thường của chúng tôi. Ðó là khoảng 1948 và đầu 1949. Chúng tôi đi từng trung đội như một cuộc hành quân. Hàng về, từ đại đội trưởng trở lên mới được dùng thẻ hỏa tốc, chính quận trưởng công an mới được phép khám hàng trong phòng kín rồi cùng ký. Chúng tôi bắt liên lạc với người tàu ở Pắc Hổi (Bắc Hải), họ đưa hàng lậu từ Ma Cao Hồng Kông sang. Thoạt trao hàng ở Phát Diệm, sau đưa sang Diêm Ðiền (Thái Bình), sau đưa sang Hải Hậu (Nam Ðịnh). Mỗi lần trao hàng, có trung đoàn Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Ðịnh, Ninh Bình) bố trí thiết quân luật để nhân dân khỏi thấy. Chúng tôi trao hàng tạ thuốc phiện đổi lấy máy chữ, đá lửa, vải, và các chất nổ như mélinite, tolite…
Sang mùa hạ 1949 Pháp luôn luôn ngược dòng sông Ðáy càn quét từ Ninh Binh lên câu Gián Khẩu qua Trường Yên đến tận Nho Quan. Cuối tháng 11, 1949 Pháp nhảy dù xuống Yên Mô, chiếm Phát Diệm, chúng tôi bất ngờ bị vây mất mấy ngày nhưng rồi may thoát được. Chiếm Phát Diệm xong, Pháp tiến vào chợ Ghềnh định sửa trường bay Ðồng Giao, nhưng bị phá. Ðường Việt Bắc bị cắt đứt, Hà Ðông, Phủ Lý bị càn quét liên tiếp, kiểm soát ngặt nghèo, các khu vực biến thành tự trị. Muốn liên lạc với Việt Bắc phải quành lối trong, qua Chi Nê. Chính dạo này chúng tôi bị đói nhiều và là dạo gạo 2,800 đồng một tạ, lương cấp chỉ huy của tôi 220 đồng, không đủ mua một yến gạo. Bữa ăn nào cũng phải có rau muống già để độn; bữa nào rau muống già nấu với nước luột thịt trộn với ít tóp mỡ, ấy là đại tiệc. Và cũng chính vào thời này khi tôi có chút tiền dư là đội sụp mũ che mặt đi uống vụng cà phê. Xin nhắc tôi không hề ăn cắp tiền nhưng nghĩ rằng xung quanh mình còn nhiều bạn đồng đội và hầu hết đồng bào không có tiền, đói, khát, thì bước chân vào tiệm cà phê như vậy lương tâm cắn rứt. Vì luôn luôn gặp lực lượng địch phục kích chúng tôi phải hành quân cấp tốc, mặc dầu ba lô trên lưng nặng, mặc dầu đường hết leo đèo lại xuống dốc, chúng tôi vẫn đi được sáu mươi cây số một ngày. Lên cơn sốt rồi, đi cố cũng được mười cây số để kịp đến trục liên lạc. Chúng tôi hành quân lần dây trong đêm tối dưới rừng, dây trùng thì đi chậm, dây căng thì đi nhanh. Một lần vào buổi chiều chạng vạng, chúng tôi tới Bát Cô, qua gầm cầu còn thấy sọ người đỏ máu vì bị cọp ăn. Có một bài thơ nói đến chúng tôi mở đầu bằng câu: “Tây tiến, đoàn quân không mọc tóc! Ðúng thế!”
Hãng đã ngồi xuống chờ chất vấn, giây lâu mọi người mới biết rằng bản bổ túc phản tỉnh thư tận cùng bằng hai chữ “đúng thế.” Rồi cuộc chất vấn khởi đầu. Thái độ sáng suốt của Hãng làm những câu chất vấn mất tính cách huyền hoặc mà lộ vẻ ngớ ngẩn. Câu trả lời của Hãng luôn luôn đơn giản nhưng vô cùng xác thực và đượm một niềm tin tưởng nhiệt thành. Quả là hai bên nói hai ngôn ngữ khác nhau, một bên cố quy về tội lỗi, một bên hoàn toàn phủ nhận tội lỗi, thứ tội lỗi a dua cố bịa ra cho có.



























































































