Chuyến tàu xuyên Việt qua đèo Ðồng Giao sang địa phận Thanh Hóa tới ga Bỉm Sơn ngừng lại mấy phút. Tôi xuống ga này và còn phải đi vào chừng mười sáu cây số nữa mới tới đồn điền Vân Du.
Ðền Phố Cát cách đấy chừng một cây, vào những ngày Rằm, mùng Một, phu và cai đều tới đền lễ để cầu xin bà Liễu Hạnh che chở cho khỏi bị ma rừng quấy nhiễu. Tối đầu khi vừa thiu thiu ngủ tôi bỗng thấy có người nằm ngay cạnh tôi. Trí suy xét còn hoàn toàn minh mẫn, tôi nhớ rằng mình đến đồn điền có một mình, và một mình mình ở căn nhà ba gian này, cai và phu ở chung một căn khà khác phía gần cổng, thì làm sao có người thứ hai nằm cạnh được? Tôi cất tiếng hỏi dõng dạc: “Anh là ai mà nằm cạnh tôi thế” này?”
Nó đáp, giọng con gái: “Tôi là cô An đây mà, anh Hai!”
Cô An! Sao nó biết chuyện cô An với tôi? Nguyên vì khi còn học ở Tuyên Quang, vào những đêm trăng, thế nào tôi và anh bạn cũng bỏ ra ít thì giờ lên đồi họa đàn. Cô An thường đứng lẫn ở chân đồi nghe trộm, cô là con gái ông giám đốc trường, cũng trạc tuổi tôi. Một lần gặp tôi trên đường, cô nói: “Anh Hai chơi đàn hay lắm, anh Hai!” Ý cô muốn đợi tôi tỏ tình. Vì ít thời giờ quá, chương trình học nặng cả về lý thuyết lẫn thực hành nên chuyện đó tôi bỏ qua, nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao cô ta biết tôi là con thứ hai trong gia đình. Tôi vừa nghĩ đến đây thì người nằm cạnh thọc nách cù tôi, lập tức tôi dùng cùi tay gạt hắn ra lia lịa, chứ không dám đấm (tôi còn nhớ rõ đấy là đàn bà). Vì làm nhiều cử động như vậy, tôi tự trạng thái nửa mê nửa tỉnh trở thành tỉnh hẳn. Tôi bàng hoàng nhìn quanh không thấy ai. Tôi vẫn chưa biết mặt hắn. Sau đó tôi ngủ yên suốt đêm. Ba bốn đêm sau liền không hề thấy động tĩnh gì.
Sắp Rằm Tháng Tám, tôi muốn về ăn tết Trung Thu với ít người thân ở Kiến An. Tôi dời đồn điền vào sáng sớm, đi xe đạp. Dọc đường tôi nghỉ ở hai chặng: Ninh Bình và Phủ Lý. Tôi tới Hà Nội vào khoảng năm giờ chiều, định ra ngồi ghế đá ngắm hồ Hoàn Kiếm một lúc rồi đi ăn và mua bánh trung thu sửa soạn mai về Kiến An là vừa. Vừa ghếch xe đạp cạnh ghế đá chưa kịp ngồi thì có bàn tay ai đặt trên vai tôi. Giật mình quay lại, tôi vui mừng nhận ra anh bạn thân thường cùng tôi họa đàn ở Tuyên Quang. Anh được bổ đi làm ở một đồn điền nhà nước tại Sơn Tây, anh cũng vừa về tới Hà Nội sắp sửa đi mua bánh trung thu để còn kịp về thăm nhà trong Hà Ðông. Anh rủ tôi về ăn Trung Thu tại Hà Ðông với gia đình anh, nhân tiện anh sẽ kể một câu chuyện có liên lạc với tôi. Tôi cũng muốn về Hà Ðông lắm để cùng anh bạn họa lại những bản đàn Chống Bản, Vương Cô Nương, Nhì Voòng, nhưng mệt quá rồi, tôi từ chối; anh bạn bèn ngồi ngày ghế đá kể chuyện cô An. Cô An đã chết. Cô treo cổ trên xà nhà tự tử. Cô có mang với anh bạn xấu nhất và dốt nhất lớp, hiện còn phải ở lại học đúp một năm nữa. Da đen mặt rỗ, người gầy như que củi nhưng rất tốt bụng, khi hay tin An có mang, anh bàn chuyện ăn hỏi và làm lễ cưới, nhưng An nói thẳng cho anh hay là An không yêu anh mà chỉ thầm yêu trộm nhớ có tôi. Rồi An tự tử.
Kể xong chuyện anh bạn tôi cười, kết luận: Ðứa con đó đẻ ra, nhất định giống cậu vì khi ngủ với hắn, An tơ tưởng đến cậu.
Tôi chưa yêu An, không mấy khi nghĩ đến An nhưng hay tin An chết như vậy tôi thương nàng vô cùng.
Ăn Tết Trung Thu ở Kiến An xong tôi trở về đôn điền Vân Du bằng đường ngang qua Nam Ðịnh. Lần thứ hai tới đồn điền này, tôi mới có dịp quan sát kỹ địa thế nơi đây. Cả Thanh Hóa chỉ vùng này có đất đỏ, xung quanh là rừng già, cây lớn tới sáu bảy người ôm, thổ dân phần lớn là người Mường. Từ đó có đường xuyên rừng đi Nho Quan thuộc Ninh Bình. Tôi bắt đầu trông nom việc giồng sơn và giồng cam. Hổ báo nơi đây đã nhiều, đồn điền lại có con bò mộng giống Ấn Ðộ, đêm đêm gầm lên chẳng khác gì tiếng cọp gầm. Tôi còn sắp khám phá thêm một điều. Căn nhà chính ba gian thênh thang, gian giữa có tiền đình, phòng khách rồi phòng ăn, gian phía Nam làm nhà kho chứa thóc và dụng cụ, tôi ở gian phía Bắc. Tôi hỏi người cai: “Lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng Nam, tai sao gian hướng Nam lại dùng làm nhà kho? Ở gian hướng Bắc thế này, rồi sắp tới mùa lạnh đây chịu sao được?”
Lúc đó người cai mới nói thực là cách đây một năm, khi căn nhà này sắp hoàn thành thì hai chú cháu người thợ mộc có điều chi xô xát, người cháu sẵn rìu trong tay bổ chú một nhát chết tươi. Nhà làm xong người cai có mang vợ đến ở gian phía Nam, nhưng bảy ngày sau người vợ cuốn gói về quê, không dám ở nữa, vì hễ cứ chợp mắt là ma xuất hiện, khi thì thọc nách cù, khi thì bóp cổ, trên cả hai vợ chồng. Vợ về quê, người cai xuống căn nhà gần phía cổng, ngủ chung với phu.



























































































