Kỳ 123
Trường Luật, Kha theo đã giải tán, một phần sinh viên được biên chế về các cơ quan thích hợp, một phần lớn tình nguyện theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Kha thoạt xin sang làm việc ở Bộ Tư Pháp.
Nơi đây, vì biết chàng có khiếu văn nghệ, ngoài công việc thường ngày người ta còn ủy cho chàng trông nom tờ nội san. Một năm qua đi, chán công việc văn phòng, Kha theo gót các bạn cũ xin theo học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn khóa Bảy. Chàng hay tin mẹ mất cũng vào dịp này. Mối duyên văn nghệ còn đeo đẳng kha khi toàn thể học viên khóa Bảy đã tề tựu ở Phụng Minh Thôn (Côn Minh), ngoài giờ tập luyện quân sự Kha còn được hiệu bộ ủy cho trông nom tờ nội san của trường.
Một lần nữa Kha vươn vai, ngẩng nhìn trần xà lim số 9. Chàng mặc cho ý nghĩ miên man về hình ảnh chiếc nhẫn saphir muốn lẫn vào với ánh sao Bắc Ðẩu.
Ôi chiếc nhẫn saphir, ánh sáng như thổn thức trên vòm xanh cao thăm thẳm thanh bình. Ánh saphir như đương rọi qua mây mờ của thời gian, sương mù của đau khổ thành một vệt sáng hy vọng mong manh nhưng chẳng bao giờ tắt.
Chương Ba
Về làng
I
Kha theo Miên và bà Tư ra khỏi Nha Công An vào phút cuối giờ tan sở. Lần đầu tiên gặp Kha, nhưng bà Tư coi chàng như chỗ quen biết cũ, hay đúng hơn coi chàng như người trong nhà. Bà Miên quý mến Miên quá nên hễ ai là bạn của Hiển, Miên là bà coi như người nhà rồi. Bà quý mến Miên đến nỗi ngay buổi đầu tái ngộ bà cứ ân hận một cách vô lý nhưng thành khẩn là sao mãi đến bây giờ bà mới được gặp Hiển, ông anh ruột của cô Miên.
– Chúng ta hãy cứ đứng đây cậu ạ, đợi xe! Bà vừa cười vừa nói với Kha khi cả ba người đã ra khỏi cổng sắt đứng trên vỉa hè sát đại lộ Trần Hưng Ðạo, đại lộ dài nhất Hà Nội chạy từ cửa chính ga Hàng Cỏ đến nhà thương Lanessan.
Bà ngắm Kha thêm chút ít rồi tiếp, vẫn giọng vui vẻ ấy:
– Ðầu tóc râu tia thế kia, người Hà Nội trông biết ngay là dân hậu phương hồi cư.
Bà quay lại nói với Miên:
– Ấy cái dạo nhà tôi về đây cũng thế, cũng đầu tóc, cũng râu ria như cậu gì đây (bà quên tên Kha). Tôi buồn cười đến chết. Mà nào ông ấy có chịu cắt tóc cạo râu ngay đâu. Ngày nào cũng vậy, tắm gội xong, ông lên xếp bằng tròn trên sập, vuốt râu vuốt tóc, ông nói mình đã thoát phong trần nhưng nên giữ những hình tích phong trần này để làm kỷ niệm. Tôi kỳ kèo mãi ông mới chịu đến hiệu hớt tóc cách đấy ba nhà.
Giọng nói đang trong trẻo của bà bỗng đượm vẻ sầu thương như ánh nắng vàng mùa Thu bỗng có áng mây buồn trôi qua che rợp cảnh vật:
– Chẳng bao giờ cô Miên à, cậu gì ạ, chúng tôi quên những ngày phong trần! Bà rút khăn mùi soa chấm nước mắt:
– Cám ơn cô Miên đã trông nom nấm mồ cháu Lân.
Giọng bà nghẹn ngào phải ngừng lại mấy giây rồi mới tiếp:
– Cứ tình hình như thế này chẳng biết ngày nào chúng tôi mới mang được cháu về.
Người ngoại quốc nào nghe bà Tư vừa nói mà chẳng tưởng lầm là con bà còn sống. Miên lúng túng chưa biết tìm cầu nào an ủi. Từ ngày gặp lại bà Tư, bao nhiêu lần như thế rồi. Câu chuyện đương vui vẻ, chợt vì một liên tưởng nào làm bà nghĩ đến Lân, đứa con xấu số chết gục chôn vùi ở một xó trung du xa xôi, thế là bà khóc và Miên lúng túng… lúng túng vì nàng biết lời nói nào của thế gian cũng trở thành giả dối nhỏ mọn trước nỗi đau khổ sâu rộng của người mẹ đó. May sao vừa thoáng thấy hay xe xích lô từ xa lại, Miên vội xuống đường vẫy rối rít Kha lên một xe, Miên và bà Tư lên một xe. Khả ngả đầu trên thành nệm, ngẩng nhìn trời. Vài tia nắng quái còn vưởng-vất trên những ngọn me cao vút, thỉnh-thoảng đối mắt Kha bắt gặp một chùm hoa phượng, mầu đỏ muộn màng còn sót lại của mùa Hạ đó như trao tới chàng mọt nụ cười nửa buồn rầu nửa diễu cợt.
Mới hôm qua đây khoảng chín giờ sáng, ngoài hành lang tít phía xa dưới cổng tò vò chính giữa trại giam, có tiếng gọi:
– Phạm Mạnh Kha!
Thấy Kha còn ngơ ngác, một anh bạn trả lời lớn giúp chàng:
– Dạ!
Sau bảy ngày bị giữ tại xà lim số 9, hôm nay là lần đầu tiên Kha được gọi lên phòng giấy. Người ta sẽ đưa chàng sang phòng hỏi cung có tên Tây lai mặt đỏ, hơi thở sặc mùi bia chăng? Không, người ta dẫn chàng lên gác vào phòng chụp hình.
Ông thợ chụp hình có lòng tốt muốn an ủi mọi người, với ai ông cũng bảo là thế nào rồi cũng được tha, vì vậy lời an ủi của ông không còn một chút giá trị gì. Có điều, lời nói của ông chân tình nên người nghe cũng không thấy bực dọc







































































