Võ Long Triều
Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, “trật tự thế giới mới” được ấn định tại Hội Nghị Yalta giữa các cường quốc, đặc biệt giữa Joseph Stalin (Liên Xô) và Winston Churchill (Anh Quốc), có Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt và Thủ Tướng Pháp Charles de Gaulle hỗ trợ. Kết quả một số các nước cộng hòa và vương quốc Ðông Âu bị sát nhập vào khối cộng sản, còn những thuộc địa của quốc gia Tây phương được hoàn về chủ cũ.
Tổng Thống Barack Obama (trái) và Chủ Tịch Tập Cận Bình tại một trang trại ở Rancho Mirage, California, hôm 8 Tháng Sáu. (Hình: Jewel Samad/AFP/Getty Images)

Trong khi đó, Chiến Tranh Vùng Vịnh năm 1991 cho Ðặng Tiểu Bình thấy Mỹ sử dụng vũ khí tối tân, tốc chiến tốc thắng, một bài học quí giá buộc họ Ðặng nghĩ phải nhanh chóng hiện đại hóa quân đội, nếu Trung Quốc muốn thực hiện “giấc mơ” bành trướng của Ðại Hán.
Từ đó ngân sách quốc phòng tăng vọt một cách bí mật làm cho cả thế giới lo ngại đặt nhiều câu hỏi về ý đồ của Bắc Kinh. Trung Quốc trỗi dậy bằng cách đổi mới kinh tế. Tư bản hay cộng sản miễn tạo được của cải vật chất góp phần phát triển quốc gia là được khuyến khích. Về kỹ thuật quân sự tân tiến, Trung Quốc sáng chế thì ít mà sao chép, ăn cắp kiểu mẫu của các cường quốc Tây Phương thì nhiều, bằng chứng Bắc Kinh mua của Nga 4 tàu ngầm Armur chạy Diesel và 24 phản lực tiêm kích tàng hình SU-35. Nhưng ngày 25 tháng 3, 2013, Thông Tấn Nga Itar-Tass thông báo cắt hợp đồng không bán nữa vì trước đó Trung Quốc mua 200 chiếc máy bay SU-SKs của Nga với giá 2.5 tỷ Mỹ kim năm 1995, nhưng đã ăn cắp kiểu mẫu để sản xuất thành loại J-11B. Chủ trương sao chép và ăn cắp kỹ thuật bằng cách làm gián điệp trên mạng lưới Internet, xâm nhập vào các công ty thương mại và cơ quan quốc phòng của Mỹ và thế giới, nay trở thành cái gai mà ông Tập Cận Bình phải giải thích với Tổng Thống Barack Obama ngày 7 tháng 6, 2013.
Lịch sử cận đại cũng như xưa kia cho thấy mỗi khi có một cường quốc trỗi dậy cạnh tranh bá quyền với một cường quốc đang tại vị thì gần như có chiến tranh. Sự trỗi dậy của Ðức Quốc đã phá tan trật tự thế giới ở Âu Châu, gây ra hai cuộc thế chiến. Thời cổ đại, sự trỗi dậy của Athens làm Sparta lo sợ, dẫn đến chiến tranh, phá tan trật tự thế giới cổ đại thời đó.
Sự trỗi dậy của Trung Quốc ngày nay với hành động bành trướng xâm lăng, chẳng những làm cho các nước láng giềng lo sợ mà cả Hoa Kỳ cũng phải thay đổi chính sách ngoại giao, quốc phòng, thông qua sự liên minh chặt chẽ với các quốc gia trong khu vực đang chịu sự đe dọa của Trung Quốc như Nhật Bản, Thái Lan, Philippines, Singapore, Ðại Hàn, Ấn Ðộ, Úc Châu, và Mỹ sẽ di chuyển 60% lực lượng quân sự về Châu Á-Thái Bình Dương gọi là “xoay trục” (Asia Pivot).
Bắc Kinh dùng vũ lực áp đảo lân bang và các láng giềng đồng minh của Hoa Kỳ, ngang ngược tuyên bố nới rộng lãnh hải, chiếm hải đảo, lập thành phố gọi là “Tam Sa,” cấm bắt đánh cá trong vùng “lưỡi bò” trái với luật lệ quốc tế hiện hành. Hành động này khiến một số dân biểu, thượng nghị sĩ đưa ra một dự thảo quyết nghị, yêu cầu Thượng Viện Mỹ lên án “việc sử dụng các biện pháp ép buộc, đe dọa, hoặc lực lượng hải quân, hải giám, tàu đánh cá và máy bay quân sự hay dân sự” để khẳng định chủ quyền trên các vùng tranh chấp hay để thay đổi hiện trạng.
Trung Quốc trỗi dậy trở thành cường quốc thứ nhì trên thế giới kèm theo những động thái ngang ngược làm cho quốc tế lo ngại, đặc biệt Hoa Kỳ. Mỹ phải lấn sâu vào Châu Á-Thái Bình Dương để kềm hãm sự ngang ngược quá mức của Bắc Kinh. Ðiều đó làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của Trung Quốc trong khu vực và tăng cường nguy cơ đối đầu Trung-Mỹ. Dư luận báo chí và chuyên gia thế giới cho rằng: “Năm nay thế giới đang đứng bên bờ của một giai đoạn khủng hoảng sắp tới.”
Cho nên khi Tập Cận Bình tiếp Ngoại Trưởng John Kerry của Hoa Kỳ hai tháng trước tại Bắc Kinh ngày 13 tháng 4, 2013, ông đưa ra chiêu bài “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới” ông đề nghị ba mục tiêu:
1. Bình đẳng tin cậy lẫn nhau;
2. Bao dung, nhịn nhau cùng tiến;
3. Hợp tác cùng có lợi.
Phải chăng nước cờ của ông Tập là muốn hai cường quốc phân chia ảnh hưởng ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu, đồng thời Bắc Kinh đề nghị Mỹ không can thiệp vào “sân sau” của Trung Quốc ở Biển Ðông và Ðông Bắc Á.
Trong tinh thần đó, ông Tập Cận Bình bất chấp nghi thức, nôn nóng muốn gặp Tổng Thống Obama trong bối cảnh tự nhiên, thân mật. Cuộc hội đàm không có thông cáo chung. Dĩ nhiên hai bên không giải tỏa được hết mọi bất đồng về an ninh mạng, về Bắc Triều Tiên, nhân quyền, Biển Ðông, Biển Hoa Ðông, và liên hệ quân sự… Ông Tập sẽ còn chất vấn ông Obama về chiến lược tái cân bằng, còn gọi là “xoay trục,” tại Châu Á của Washington.
Sự thật quan hệ nước lớn kiểu mới Bắc Kinh muốn là gì? Phải chăng là Trung Quốc muốn Hoa Kỳ chấp nhận và tôn trọng “quyền lợi cốt lõi” của họ ở Châu Á-Thái Bình Dương? Giới chức Trung Quốc thường hô hào “tôn trọng lẫn nhau, hỗ tương quyền lợi, hợp tác song phương.” Nhưng theo ông Paul Haenle, cựu giám đốc về vấn đề Trung Quốc tại Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Mỹ, nhận xét, sẽ không bao giờ có thỏa thuận trên những đòi hỏi tuyệt đối như vậy, mặc dù ông Tập Cận Bình hai lần tuyên bố Thái Bình Dương đủ rộng cho hai cường quốc hoạt động.
Cuộc gặp gỡ Tập Cận Bình-Obama tháng 6 này không giống cuộc họp thượng đỉnh Churchill-Stalin tháng 2 năm 1950, làm cho “tình hình tồi tệ hơn” khi thế giới bước vào cuộc Chiến Tranh Lạnh. Càng khác xa với cuộc họp thượng đỉnh John F. Kennedy-Nikita Krushchev ở Vienna, để rồi cuối cùng ông Krushchev tuyên bố: “Tùy Mỹ quyết định xem có chiến tranh hay hòa bình.” Và Tổng Thống Kennedy trả lời: “Sẽ có chiến tranh, sẽ là một mùa đông giá rét.”
Thượng đỉnh lần nầy cho thấy bên nầy ông Tập muốn “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới,” bên kia ông Obama tuyên bố “hoàn toàn tin tưởng sự trỗi dậy của Trung Quốc tốt cho thế giới và cho Mỹ.” Theo nhận định của chuyên gia nghiên cứu cao cấp, Kenneth G. Lieberthal của Viện Brooking ở Mỹ, thì mục tiêu quan trọng nhất của cuộc gặp thượng đỉnh lần nầy là cho phép mỗi nhà lãnh đạo có được sự cảm nhận thực sự về đối phương.
Những gì được thỏa thuận hay bất đồng còn tồn tại không được ghi thành bản văn, nhưng người ta có thể ước đoán thông qua sự hòa hoãn trong cuộc họp báo rằng hai cường quốc không có ý đồ và điều kiện gây chiến tranh, bởi lẽ nó sẽ là “mùa đông giá rét” như Tổng Thống Kennedy tiên đoán. Sự thật Trung Quốc chỉ cần gậm nhấm một phần từ cái lưỡi bò đã liếm được ở Biển Ðông, ngoại trừ những vùng thuộc sở hữu của các đồng minh Hoa Kỳ như Philippines, Nhật Bản. Vùng biển chiếm được đủ thỏa mãn nhu cầu tối cần thiết cho nền công kỹ nghệ đang lên, và nguồn hải sản dồi dào đủ nuôi hàng tỷ người Trung Quốc.
Xét cho cùng, sự tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông không thể là duyên cớ buộc Mỹ phải động binh. Dù chủ quyền thuộc ai, Mỹ vẫn có thể dùng kỹ thuật tân tiến của mình khai thác tài nguyên dưới đáy Biển Ðông trong tinh thần đôi bên đều có lợi.
Riêng đối với Mỹ hiện đang mở mang kế hoạch hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP, chưa có Bắc Kinh tham gia). Tổng Thống Obama đã phát biểu tại Tokyo tháng 11 năm 2009: “Sẽ định hình thỏa thuận một khu vực rộng mở, với tiêu chuẩn xứng tầm của một hiệp định thương mại thế kỷ 21.”
Xét về kinh tế, liên hệ Mỹ-Trung còn dính liền khá mật thiết. Trong khi đó, thế quân sự cân bằng, Mỹ đã tìm cách kềm hãm Bắc Kinh, làm cho trật tự thế giới mới ổn định, và “lợi ích cốt lõi” của đôi bên sẽ được bảo đảm một thời gian khá dài.



























































































































