Kỳ 218
Ðạo là con trai duy nhất của bà huyện Ba và cũng là cậu ấm bình dân nhất trong số những cậu ấm cô chiêu con cụ huyện Từ. Có lẽ vì là con bà Ba nên chất quan cách loãng đi, số anh chị em một cha ba mẹ lại quá đông nên sự chăm nom săn sóc nặng tính chất nề nếp hợp lý mà rất thiếu về tình cảm thắm thiết. Nề nếp ấy giữ cho Ðạo được ăn học theo đúng con dòng cháu giống; sự thiếu tình cảm kia đã khiến Ðạo tìm lối thoát theo thiên tính ưa bông lơn để chàng dễ gần với đám người bình dân. Chủy nhớ là Ðạo vẫn hay mặc quần áo nay bằng vải phin trắng nõn hay bằng lụa tơ tầm vàng ngà, rất quý phái, nhưng lại ngồi xổm bên bác đánh vó hay ngồi giữa đám nông phu trong quán nước để tán chuyện gẫu.
Lúc Ðạo thoạt gia nhập ai nấy thường e dè, nhưng chỉ qua đi vài câu bông lơn có duyên của Ðạo là tiếng cười hòa đồng ngay và bức thành giai cấp tự nó sụp đổ. Tiếng vẫn theo học ở Hà Nội nhưng Ðạo vẫn gần gũi với quê hương là thế. Cho đến ngày trưởng thành – ngày cưới vợ – Ðạo được cha tậu cho một dinh cư riêng ngay sát bên căn nhà tranh nghèo của mẹ con Chủy. Ðạo hơn Chủy độ năm sáu tuổi, bà đồ Thinh có giải thích cho Chủy hay là bà huyện Ba với ông đồ có liên hệ xa xôi chị em con già con dì. Ðạo vẫn thân mật gọi Chủy là “chú Chùy” và lẽ cố nhiên nhiều khi đùa cợt với Chủy, nhưng Chủy rất ác cảm với vợ Ðạo. Ðạo hai mươi nhăm tuổi mới lấy vợ – ở nhà quê như vậy là muộn lắm – vợ Ðạo cũng là con quan. Chủy thấy cử chỉ, lời ăn tiếng nói của vợ Ðạo rất cao kỳ, tiếng gọi con sen kéo dài đài các: “Seeen!”, giọng mắng sang sảng “Mày ngu lắm seeen!”, giọng sai bảo cũng sang sảng: “Nghe tao đây seeen!” Chủy nghe mà lộn ruột. Thoạt nhà Chủy với nhà Ðạo chỉ cách nhau có hàng rào dâm bụt, vợ chồng Ðạo về ở được một năm thì cho xây tường dầy hai mươi phân, cao hơn đầu người. Thế càng hay, Chủy khỏi phải nhìn thấp thoáng bóng đài các của người đàn bà con quan kia, và tiếng nói sang sảng của người đó cách ngỡ tường dầy cũng đỡ làm Chủy muốn nổi xung. Mỗi khi thoáng gặp vợ Ðạo từ xa lại, Chủy tránh sang ngõ khác ngay, Gớm mặt! Thực ra vợ Ðạo chưa hề một lần thất lỗi với mẹ con Chủy; đôi khi có điều gì nói với bà đồ Thinh, người đàn bà con quan ấy giữ đúng lễ vai dưới, thưa gửi trịnh trọng, nhưng Chùy vẫn thấy… “thế nào ấy”; thái độ lễ phép kiểu cách ấy vẫn như là một loại xa xỉ phẩm mà kẻ giàu sang bố thí cho kẻ nghèo hèn. Chính vì thế Chủy càng ghét vợ Ðạo thậm tệ và luôn luôn tự nhủ thầm: “Con mẹ mới kiểu cách giả dối làm sao!”
Có lẽ tại Chủy nặng tự ty mặc cảm quá!
Khi có phong trào hoạt động Việt Minh bí mật thì vợ chồng Ðạo lại ra Hà Nội ở, nhà gửi một người nghèo trong họ. Những ngày đầu kháng chiến, Chủy có nghe nói vợ chồng Ðạo tản cư ít ngày về phía cổng Thần, Chợ Ðại (Liên Khu III) rồi trở về Thành ngay.
Bị nhốt ở camp Hải Dương khoảng mười ngày thì Chủy bị gọi lên hỏi cung với một trận đòn phủ đầu tối tăm mặt mũi: “Mày có phải cán bộ Việt Minh? Mày có phải Việt Minh quan trọng?” Chủy chịu được đòn, khai rằng mình là thường dân tản cư đến miền đó, rằng mình vẫn định đến Hải Dương thăm người bà con làm bí thư cho ông tỉnh trưởng hiện ngụ tại số 3 phố Hoàng Hoa Thám, rằng nếu được gặp người bà con áy mình sẽ xin giấy tờ trở về quê cũ…
Lời khai khôn ngoan của một cựu chủ tịch huyện, đương kim tỉnh ủy viên, có thừa mánh lới, kèm theo bộ mặt nông dân với đôi mắt biết kịp thời dịu tia nhìn cho đượm phần chất phác, đã khiến Chủy chỉ bị ba trận độn đầu rồi được tha. Ðể phòng nhì cùng công an chỉ điểm quốc gia thật yên trí về sự ngay tình của mình, Chủy hỏi thăm đường tìm đến nhà số 3 Hoàng Hoa Thám. Dự định tới thăm Ðạo, Chủy còn thâm ý muốn dò la cho rõ tình hình địch và bù nhìn về nếp sinh hoạt thường nhật, vệ quân sự cũng như về tổ chức hành chánh để tiện bề lãnh đạo sau này khi trở về vùng kháng chiến, trở về với bí danh Mạnh, tỉnh ủy viên Hải Dương.
Ðầu tuy đã chải khi ra khỏi trại giam nhưng vì lâu ngày chưa húi nên tóc sau gáy và hai bên thái dương khá dài làm Chủy thấy bận bịu; sự bận bịu đó khơi dậy sự bận bịu trong thâm tâm Chủy hằng có với vợ Ðạo từ xưa. Vô tình Chủy giơ tay lên vuốt lại mái tóc từ đỉnh đầu xuống gáy, nghĩ thầm: “Con mẹ đó trông thấy mình ăn mặc như thế này, đầu tóc như thế này, nó khinh phải biết! Cái giống tiểu tư sản quan liêu thoái hóa đó sớm muộn cũng phải tiêu diệt chúng cho bằng hết!”
Ai xôi vò chè đừng! Tiếng rao lanh lảnh của cô bán xôi chè đường tiến lại, Chủy né mình tránh. Mùi nước dùng ngào ngạt cũng vừa ấp tới phà ấm mặt, Chủy đưa mắt nhìn vào hàng phở ngay bên, khách đương đông, tíu tít kẻ ngồi người đứng, kẻ ngẩng nhìn chờ đợi, người cúi ăn mải mê, tiếng nói xen tiếng cười… Qua hiệu phở đến một cửa hàng tạp hóa khá lớn, sát tường phía trong cùng, những chai rượu vang, rhum, champagne đủ các nhãn hiệu xếp thành hàng dài trên kệ cao nhất, mấy kệ dưới là những đồ hộp, những lọ kẹo, đường, bánh ngọt, cà phê… hai tủ kính phía ngoài nhan nhản những thứ hàng xa xỉ. Ngoài kia giá có được cắt cái móng tay chẳng hạn, đã là quý, mà ở đây biết bao những hàng quý gấp ngàn lần bầy la liệt, thừa mứa. Tiếp đến mấy gian liền những cửa hiệu sản xuất bánh đậu, bánh khảo nổi tiếng khắp Bắc Việt, mùi vani quyện với mùi đường mùi bột thơm phức.
Một lần nữa Chủy giơ tay vuốt mớ tóc dài rối lầm bầm: “Chúng nó phè phỡn trong bơ sữa thế này không hèn sao được?”
(Chỗ này Chủy lại quên béng mất tư tưởng mấu chốt của người cộng sản: vật chất quyết định)
Chủy đã rẽ sang tay trái: phố Hoàng Hoa Thám!



























































































