Khu Rừng Lau (Kỳ 236)

 


Kỳ 236


Nói về “tiểu đoàn áo nâu,” cũng gọi là “tiểu đoàn trâu” tung hoành bên quận Giao Thủy, đây là một tiểu đoàn chính quy phần lớn binh sĩ là đồng bào thiểu số người Nùng. Họ sinh hoạt y hệt một tiểu đoàn địa phương quân tự trị. Họ luôn luôn bận quần áo nâu như thường dân – do đó cái tên “tiểu đoàn áo nâu.”

Không thiết lập những đồn chính cùng đồn phụ cố định, họ lưu động khắp quận, đêm nào cũng đi nằm nấp ở các bờ bãi, vô phúc quân đội Việt Minh lọt vào ổ phục kích của họ, chết không kịp trở tay. Thực tình Việt Minh khi biết là chạm trán phải tiểu đoàn áo nâu, lập tức mạnh ai nấy chạy mà thoát thân. Các làng tề theo quốc gia, tiểu đoàn áo nâu không bao giờ đụng chạm tới, nhưng làng tế ấm ớ nào dung dưỡng Việt Minh quấy phá, tiểu đoàn áo nâu thẳng tay tàn sát. Sau mỗi cuộc hành quân thắng lợi tiểu đoàn áo nâu tự động bắt một con trâu của vùng tề ấm ớ về ngả thịt tự khao – do đó cái tên thứ hai: “tiểu đoàn trâu”! Họ thương nhau như anh em ruột, một người ngã xuống họ căm thù, họ phản công, họ gài bẫy, họ truy kích bắt kỳ được đối thủ phải trả món nợ máu tức khắc, một trả mười hay hơn nữa. Tiểu đoàn áo nâu khi thoạt tới quận Giao Thủy, quân số nguyên vẹn gồm 500 người. Rồi xông xáo nay đây mai đó, phục kích tung hoành, quân số hao hụt nhưng họ nhất quyết không chịu bổ sung.

Trận oanh liệt nhất của tiểu đoàn áo nâu mà dân chúng quận Giao Thủy thường nhắc nhở đến luôn như một giai thoại là trận tiểu đoàn để lại nơi tạm trú năm bạn đồng đội, đêm đến thắp đèn măng sông sáng trưng, thấp thoáng kẻ đứng người ngồi. Việt Minh ập tới định ăn thua một trận tốc chiến tốc thắng. Chợt ngọn đèn măng xông bị bắn vỡ tan, bóng đêm chụp xuống, năm “con mồi” lẩn xuống hầm bí mật nhường chiến địa cho toàn thệ chiến hữu khác từ bốn bề ập tới làm chủ tình thế tức khắc và tốc chiến tốc thắng gấp mười lần. Xác Việt Minh gục ngã ngổn ngang như rạ mùa.

Những chiến hữu trong tiểu đoàn áo nâu có lý do để say sưa lâu dài hương vị chiến thắng, nhưng những người dân bên ngoài vui đấy mà buồn đấy, vui buồn nhấp nháy như ánh sao, vì họ không bao giờ quên rằng đó là cốt nhục tương tàn để cho thực dân và cộng sản quốc tế đứng ngoài hưởng lợi, chúng dùng xác những đồng bào ngã xuống làm con bài mặc cả với nhau – ngày đó tin họp hội nghị Genève đã chính thức được xác nhận. Cho đến ngày hội nghị Genève bế mạc, phong trào di cư khởi xướng, tiểu đoàn áo nâu chỉ còn có trên dưới một trăm chiến hữu. Họ tự động giải tán.

Nhưng tâm hồn Lãng tràn ngập trữ tình nhất phải kể đến những ngày chàng trở về quê cũ – làng Thương Ðiền – song hòa đồng với đám người đồng hương trong những ngày di cư và gặp lại ông Phụ.

Chiến trường Bùi Chu vào hồi tàn cuộc chỉ còn vài đồn quan trọng nhất để bảo vệ tỉnh lỵ đồn Lạc Quần, đồn Cựa Gà và đồn Trà Trung.

Tối hôm đó xung quanh Bùi Chu bỗng yên tĩnh lạ. Khoảng chín giờ tối dân chúng đã đi ngủ như thường lệ. Họ ẩn sớm vào giấc ngủ cho khuây khỏa mối sầu lo luôn luôn đè trĩu tâm hồn họ vào lúc ban ngày; cũng có nhiều người, lo đã nhiều rồi, hoang mang đã hoang mang nhiều rồi, lòng muốn sượng sần thành chai đi. Nửa đêm về sáng họa hoằn mới nghe thấy vài tiếng súng lẻ tẻ vọng lại từ xa. Nhưng sao hai đồn Lạc Quần và nhất là đồn Trà Trung đốt hỏa pháo nhiều thế? về gần sáng có tin sét đánh: quân đội rút khỏi vùng duyên hải này. Tại sao rút? Lời giải: rút lên Hà Nội tập trung lực lượng để rồi sẽ trở về.

Tám giờ sáng, quân đội tập trung ở đồn Cựa Gà, một phần xuống tàu ngược sông Ninh Cơ lên Nam Ðịnh, phần còn lại theo đường ra biển lên tầu đi Hải Phòng.

Những nhà giầu đã nếm mùi cộng sản bán vội gia cơ điền sản theo gót quân đội lên ở hẳn thủ đô hoặc ít ra cũng lên đến Nam Ðịnh. Dân chúng trung lưu chần chừ ở lại bèn vào mấy đồn cũ lượm những trái lựu đạn còn sót đem ra sông Ninh Cơ mở kíp ném xuống vớt cá. Nhưng bộ đội Việt Minh đã lác đác tới kia, tức thì miền quốc gia ruỗng nát biến thể thành miền Việt Minh, phi cơ bỗng sà xuống thả bom và bắn phá. Dân chúng thoạt ngơ ngác, nhưng rồi nhận thức ngay hoàn cảnh bị mắc kẹt giữa hai làn lửa. Thế là đa số quyết định thu vén của nả đưa nhau, dẫn dắt nhau, bồng bế nhau đi Nam Ðịnh, đi Hưng Yên, đi Hải Phòng, đi Hà Nội.

Lúc đó Lãng đã về quê nha ợ- làng Thương Ðiền. Chàng còn ở làng khá lâu nữa để chiếu ống kính phóng sự lên miền duyên hải quê hương cho đến ngày chàng cùng ông cậu xuống bè ra biển lên tàu đi Hải Phòng.

Ngoài bãi biển vào một ngày đầu di cư, ông Phụ cũng đã tợp hết cút rượu, mặt đỏ gay, đôi mắt hấp háy, ông rời bãi biển đi lên, qua rừng phi lao, leo lên đê cao, nhìn xuống khu ruộng muối màu xám ẩm với những con kênh lấp lánh như bạc, xa chút nữa làng Thương Ðiền với lũy tre xanh kéo dài trên ba cây số, và khi thầy từng đám người lũ lượt kéo nhau đi, ông cất tiếng cười sảng khoái hét lớn câu khôi hài từ mười năm nay của ông:

– Ha ha! Màààn… từ từ… hạ!!!

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT