Kỳ 238
Bà Phụ bỗng lên một cái đinh râu. Coi như cái mụn thường, bà soi gương tự nặn lấy. Hôm sau cả một bên mặt bà sưng vù không mở được mắt, cơn sốt lên bừng bừng, thuốc thang không gỡ kịp, năm ngày sau thì mất.
Thế là qua được nạn đói khủng khiếp lại chết về đinh râu, đi biển không chết, chết ở rãnh ngòi! Người vợ hiền chết đi mang theo cả linh hồn hạnh phúc, ông Phụ chẳng thiết làm ăn gì nữa bắt đầu rượu chè be bét, tính tình ngang ngạnh dần, rồi văng tục, rồi chửi đổng…
Cách Mạng Tháng Tám thành công, có tin con giai cụ Thượng Quận bị làm nhục ở quê nhà vùng Hà Ðông, còn quan Thượng ở thủ đô thì vừa lo vừa uất mà chết. Nhớ lại mối thù ngày nào tranh đấu giảm tô thất bại, ông Phụ cười ha hả sặc sụa mùi rượu, hét lớn lần đầu tiên câu: “Màn… từ từ… hạ!” Rồi kể từ đấy câu trên bỗng thành câu tán thán cửa miệng của ông Phụ nhiễm tính chất bi hài. Tất cả những việc lớn nhỏ có tính cách thương hải biến tang điền, đương giàu sang bỗng nghèo hèn, mới đây kiêu ngạo nay bị làm nhục… đều được ông Phụ phê bình gọn trong hơi rượu sặc sụa: “Màn… từ từ… hạ!”. Sau này tất cả người làng Thương Ðiền đều gọi ông là ông “Màn… từ từ… hạ!”
Ông rời làng Xuân Lũy mang ba con trở lại làng Thương Ðiền nhưng không thích ở trong làng mà dựng một căn nhà nhỏ khoảng giữa đê và rừng phi lao. Thấy vậy người làng bèn ủy cho ông hai việc: coi cống dẫn nước biển vào các kênh quanh ruộng muối và coi rừng phi lao. ông nuôi thêm một đàn dê nữa. Càng ngày ông càng nát rượu, hễ thấy bất cứ ai, bất cứ cái gì ngang ngạnh hay không hợp lý là ông chửi. Hồi Việt Minh mới lên, ông chỉ vào các khẩu hiệu mà chửi đổng, khi chính quyền quốc gia tới ông chỉ và các áp-phích có hình Bảo Ðại mà chửi đổng. Việt Minh thắng là “màn… từ từ… hạ” cho những anh quốc gia thối nát; quân quốc gia thắng là “màn… từ từ… hạ” cho những anh Việt Minh gian hùng. Người làng kể là đêm đêm ông Phụ vẫn thường ra rừng phi lao ngồi tựa vào một gốc cây lớn để rồi ngẩng nhìn trời sao mà thủ thỉ thù thì như hệt đương nói chuyện với bà Phụ xưa. Thằng con trưởng của ông vào lính quốc gia rồi tử trận. Từ đấy câu “màn… từ từ… hạ” thường dùng để riễu Việt Minh nhiều hơn. Và ông càng uống rượu. Ấy tuy cả ngày sặc mùi rượu, nhưng việc canh cống và rừng thông thì bao giờ cũng chu đáo. Có những lần nước biển bất chợt dâng lên quá cao, nửa đêm ông cũng chạy về làng báo cho mọi người hay mà chuẩn bị đề phòng, ông đã cải táng cho bà Phụ, ngôi mộ xây gần ngay căn nhà tranh ông ở. Người làng bắt gặp nhiều buổi chiều ông ngồi xếp bằng tròn bên cạnh mộ vợ, ngửa cổ tu cút rượu, tay vê vê hột lạc rang rồi vừa nhấm nháp như vậy vừa thì thầm nói chuyện một mình những gì. Vào những lúc ông tinh tỉnh người làng có đề nghị: “Này ông Phụ, tục huyền đi!” Ông thường cười buồn rầu và lần nào cũng chỉ về phía mộ mà nói: “Gặp ai hiền như bà ấy thì tôi lấy.” Nhưng lời đề nghị trên gặp lúc ông say ông chỉ về phía mộ mà gầm lên: “Màn… từ từ… hạ!”
Ðàn dê của ông Phụ khi chán khu rừng phi lao leo lên đê rồi mon men đến bờ kênh dẫn nước mặn, đã đôi lần có con sẩy chân sa xuống thống trữ nước mặn. Giống dê hễ nước vào tai là chết, biết vậy ông Phụ cho làm thịt ngay, chia phần thịt sống biếu các anh em bà con thân tình. Khi rượu say rồi ông chửi thằng anh tại sao lại đi lính để chết uổng mà không ở nhà trông đàn dê cho ông, ông chửi thằng em “vô tích sự” chỉ biết đi học không biết trông đàn dê, ông chửi cô con gái nuôi là tu đến mười đời cũng không bén gót mẹ. Chửi chán rồi ông hét lên để chấm dứt: “Màn… từ từ… hạ!”
Ðêm đêm mấy người đánh vó đem cút rượu đến biếu ông để ông chỉ cho biết là con nước như thế thì quãng nào có nhiều cá (cá đối, cá nục, cá vược, tôm rát…)
Lũ trẻ con làng cũng thích ông Phụ vì ông hay kể chuyện ma cho chúng nghe. Giang sơn của ông là khu bãi biển Thương Ðiền, cả khu rừng phi lao ven bãi biển, cả con đê dài với chiếc cống lớn nước biển xuyên qua tiếng réo như tiếng âm hồn, thì làm gì mà ông chẳng nhiều chuyện ma. ông nhắc chuyện mấy năm trước đây có chiếc tàu buôn bị bão đánh đắm ngoài khơi, một số xác chết dạt vào bãi Thương Ðiền. Người làng mời ông uống rượu rồi nhờ ông chôn cất giùm những xác vô chủ đó. Trong số xác chết ông thấy có hai xác chết ôm nhau, một đàn ông một đàn bà, tất nhiên là hai vợ chồng, ông đặc biệt chôn ưu đãi hai vợ chồng này gần nhau bên một gốc phi lao lớn cách mồ bà Phụ không xa. Ông lại căn dặn con trai và con gái là khi ông chết thi cũng chôn ông gần bà Phụ như thế. ông kể với lũ trẻ con làng Thương Ðiền là nhiều đêm ông nghe thấy tiếng khóc nỉ non bốc lên từ hai nấm mộ vợ chồng kia rồi một lúc sau thì có hai vầng lửa đỏ bằng hai cái nia dập dìu đi ra tận ngoài khơi rồi lại dập dìu về.
Lũ trẻ nhiều khi cũng phá lắm, chúng tập trận giả làm gãy những cây phi lao nhỏ. Ông Phụ cầm dao dọa đuổi, chúng biết tính ông nên chỉ chạy lấy lệ. Ông dọa chúng là tối đến ông sẽ bảo hai vợ chồng ma về bóp cổ chúng, chúng bèn vít cổ một con dê và dọa lại ông là sẽ dìm dê xuống biển cho nước vào tai. ông gầm lên “Chúng bay là những con nhà mất dạy, chúng bay sẽ thấy màn… từ từ… hạ!”
Ông gả chồng cho cô con gái nuôi. Khi nhà trai đến rước dâu đi ông khóc nức. Buổi chiều ông uống rượu, ông kể công nuôi “nó” từ năm đói để đến bây giờ là “màn… từ từ… hạ!”
Hiệp định Genève ký, dân chúng ùn ùn di cư, ông cũng hả hê một cách không hề có ác ý và nhiều lần hô lớn câu “màn… từ từ… hạ!”



























































































