Chống tham nhũng, được không? (Bài 2)

GS.TS. Nguyễn Vân Nam



Bài 2: Làm gì để chống được tham nhũng ở Việt Nam?



Những biện pháp chống tham nhũng vừa phải tuân theo các nguyên tắc chính (mục tiêu) đã được quốc tế công nhận, vừa phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của Việt Nam. Các biện pháp này cần được thực hiện đồng bộ, và tiêu chí đánh giá kết quả chống tham nhũng cần gắn liền với kết quả chống đói nghèo.



Để có thể thực sự chống tham nhũng, những biện pháp sau đây là những biện pháp tối thiểu, không thể không làm:



Thứ nhất, cần xác định, hạn chế và giới hạn rõ ràng phạm vi quyền lực công bằng và trong khuôn khổ pháp luật. Cụ thể là:



-Minh định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của đảng Cộng Sản (ĐCS) VN khi được giao nhiệm vụ lãnh đạo Nhà nước và xã hội.



Đây là việc làm cấp thiết để bảo đảm rằng: bất kỳ sự sử dụng quyền lực tối cao nào đối với xã hội cũng phải nằm trong khuôn khổ và được pháp luật cho phép; có thể truy cứu trách nhiệm-đến nơi đến chốn- của bất cứ thành viên xã hội nào (cá nhân, tổ chức) được trao quyền lực; có đủ các điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền thật sự.



Trong chế độ Dân chủ của một Nhà nước pháp quyền, quyền lực bao giờ cũng phải gắn chặt không thể tách rời với trách nhiệm của người sử dụng nó trước người dân. Nguyên tắc quyền lực phải gắn chặt với trách nhiệm được quốc tế nhất trí công nhận là nguyên tắc hoạt động để phân biệt chế độ dân chủ với các chế độ khác. Một hình thái tổ chức xã hội, mà ở đó, quyền lực không gắn liền với trách nhiệm thì cũng không thể có chế độ dân chủ.



Quyền lực không thể là vô giới hạn. Quyền lực được trao để thực hiện những nhiệm vụ xác định. Người được trao quyền lực có 02 trách nhiệm chính: trách nhiệm sử dụng quyền lực đúng mục đích và trách nhiệm chịu trách nhiệm khi không hoàn thành trách nhiệm. Không thể nói đến trách nhiệm khi không có các qui định pháp luật đánh giá, kiểm tra được mức độ hoàn thành trách nhiệm và qui định những hậu quả pháp lý cụ thể mà người sử dụng quyền lực phải chịu khi không hoàn thành trách nhiệm. Các qui định như vậy có cũng như không, nếu nó không được áp dụng cho tất cả mọi người, mọi tổ chức.



Đảng CS VN được Hiến pháp giao nhiệm vụ lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ này, đảng được trao cho quyền lực tối cao. Tuy Điều 4 Hiến pháp qui định mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nhưng Việt Nam chưa có luật về hoạt động của đảng CS. Thực tế, đảng là người quyết định tất cả; quyết định của đảng là quyết định có hiệu lực cuối cùng đối với mọi hoạt động của Nhà nước. Nhưng hiện nay chưa có một cơ sở pháp lý nào cho phép Tòa án kiểm tra tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định của đảng. Sử dụng quyền lực tối cao mà không phải chịu trách nhiệm với những hậu quả pháp lý xác định, chính là một trong những trở ngại lớn nhất cho công cuộc phòng chống tham nhũng.



Để khắc phục sơ xuất trên, cần sớm thực hiện Điều 4 Hiến pháp mà ban hành Luật về hoạt động của ĐCS VN, nhất thể hóa ĐCS VN với chính phủ (Tổng bí thư đảng là thủ tướng) và có thể xem xét công nhận bộ chính trị là một cơ quan hiến định.



Đảng CS VN nên bắt tay xây dựng một qui trình đảng lãnh đạo Nhà nước một cách công khai, minh bạch mà khởi đầu là: Công bố công khai, đầy đủ các ý kiến tranh luận, thảo luận về chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, xã hội tại đại hội đảng từ cấp tỉnh, thành phố đến toàn quốc trong thời gian tiến hành đại hội. Công bố danh sách chính thức các cán bộ đảng sẽ giữ chức vụ thủ tướng, bộ trưởng do đảng giới thiệu cho Quốc hội phê chuẩn.



-Công nhận quyền tư hữu đất đai.



Đại đa số các vụ tham nhũng đều liên quan đến đất đai. Chính qui định đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu với quyền định đoạt ai được sử dụng đất vì mục đích nào, đã khuyến khích và mở ra những cơ hội dễ dàng cho việc lợi dụng, lạm dụng thứ quyền lực mang lại mối lợi to lớn về kinh tế này.






Đại đa số các vụ tham nhũng đều liên quan đến đất đai. Hình minh hoạ. Nguồn: soha.vn



Không ai muốn sống trong một xã hội, mà ở đó họ không được hưởng thành quả do lao động chính đáng của mình làm ra cả. Việc bảo đảm quyền tư hữu vì vậy phải là mục tiêu hàng đầu của xã hội. Được sở hữu một mảnh đất, một ngôi nhà làm nền tảng cho một tương lai ổn định, để an cư lạc nghiệp cũng luôn là mục tiêu ưu tiên nhất của bất cứ ai. Người ta dành dụm tiền bạc, thành quả lao động của mình, trước hết là để có thể sở hữu ngôi nhà trên mảnh đất của mình. Quyền tư hữu mà không được bảo đảm sở hữu đất đai là một quyền tư hữu què quặt và thực chất không thể là quyền tư hữu. 



Quan trọng hơn, khi người ta biết rằng mảnh đất dưới ngôi nhà mà họ dành dụm cả đời mới mua được đó, vẫn có thể bị Nhà nước thu hồi vào bất cứ lúc nào- cho những mục đích do Nhà nước tự quyết định- thì họ không thể có lòng tin vào điều giản dị nhất: Công sức lao động của họ được bảo vệ, được đảm bảo. Sự mất lòng tin vào điều giản dị làm nên xã hội dân sự đó, cũng chính là nguyên nhân sâu xa khiến người ta không còn tin vào giá trị của sự được tin cậy. Và vì thế, cũng là nguyên nhân sâu xa khuyến khích tham nhũng khi được giao phó quyền lực công.



Một định nghĩa pháp lý thống nhất về quyền sở hữu với đầy đủ các quyền năng cho bất cứ chủ sở hữu nào trong nền kinh tế thị trường là hết sức cần thiết. Việc phân chia quyền năng sở hữu khác nhau theo các chủ thể quyền khác nhau (sở hữu nhà nước, tập thể, hợp tác xã,…) như Việt Nam đang làm vừa gây trở ngại rất lớn cả về lý thuyết lẫn thực tiễn trong việc xây dựng một trật tự kinh tế thị trường xã hội; vừa góp phần quan trọng tạo nên các thị trường giá trị ảo khuyến khích tham nhũng



Thị trường đất đai có vai trò hết sức đặc biệt, làm nền tảng cho hoạt động hữu hiệu của các thị trường khác trong nền kinh tế thị trường. Việc định giá đất đai giữ vai trò có tính chức năng thiết yếu trong việc bảo đảm sự minh mạch trên thị trường. Nó là một yếu tố quan trọng cho phép xác định đúng giá trị đất thế chấp vay tín dụng qua đó ảnh hưởng lớn đến hình thành giá cả của thị trường, …Vì vậy, giá trị đất đai nhất thiết phải do quan hệ Cung – Cầu trên thị trường quyết định. Nhà nước giữ độc quyền quyền định đoạt (của chủ sở hữu) đối với đất đai cũng chính là giữ quyền định giá đất và cùng với nó là quyền điều khiển hoạt động của thị trường theo ý muốn chủ quan, đặc biệt là trong việc tạo các cơn sốt ảo. 



Thực chất, ở Việt Nam, đây là thứ quyền lực kinh tế vô giới hạn vì: theo luật pháp không có một thửa đất nào là “bất khả thu hồi” đối với Nhà nước; việc Nhà nước sử dụng quyền định đoạt đất đai như thế nào là không thể kiểm soát; việc lạm dụng quyền định đoạt đất đai vừa đem lại lợi ích kinh tế hết sức cao, vừa tạo ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài cho kẻ tham nhũng sử dụng nó. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất khuyến khích, hấp dẫn tham nhũng. Công nhận quyền tư hữu đất đai sẽ loại bỏ được điều này.






Hình minh hoạ: Nguồn: Reuters



Đã hội nhập kinh tế quốc tế, đã xác định phải xây dựng Nhà nước pháp quyền sớm muộn gì chúng ta cũng phải công nhận quyền tư hữu đất đai. Công nhận sớm ngày nào người dân đỡ khổ vì vấn nạn tham nhũng ngày đó. Tại sao không làm?  



-Hạn chế tối đa hoạt động kinh tế của Nhà nước.



Về cơ bản, Nhà nước không được phép hoạt động kinh tế. Hoạt động kinh tế của Nhà nước phải là ngoại lệ và tuân theo nguyên tắc: Nhà nước chỉ hoạt động kinh tế tại nơi và chỉ khi thị trường tự do bất lực.



Chính hoạt động kinh doanh, can thiệp của Nhà nước vào tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như hiện nay, ngoài việc gây ra các hậu quả tiêu cực ai cũng biết, còn mở ra- gần như vô tận- các cơ hội hấp dẫn tham nhũng. Đơn giản vì Nhà nước-do đủ thứ nguyên nhân và quan hệ chồng chéo, mà đặc biệt là quan hệ giữa kết quả kinh doanh và năng lực điều hành chính phủ- không bao giờ có thể có, hay muốn có, được đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết cho việc kiểm soát toàn diện hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN). 



Vì vậy, tham nhũng trong và bằng các hoạt động kinh doanh của Nhà nước lấy trực tiếp „tiền tươi“ dễ nhất, nhiều nhất, khó kiểm soát nhất, dễ biện minh nhất, dễ thoát tội nhất. Tham nhũng trong hoạt động kinh tế của Nhà nước còn là động lực thúc đẩy tham nhũng trong các lĩnh vực khác. 



Cần có qui định pháp lý phân biệt rõ ràng DNNN độc quyền với DN có vốn góp của NN.



DNNN độc quyền hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận hay là nguồn thu ngân sách, mà là đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân, của xã hội. Trước mắt, cần có luật về hoạt động của DNNN độc quyền phù hợp với các đặc trưng được WTO công nhận. Quốc hội sẽ quyết định các lĩnh vực nào là thiết yếu, trọng tâm đối với đời sống người dân, xã hội mà DNNN được độc quyền. 



DN có vốn góp của NN. Cần nhanh chóng xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng cho hoạt động của DN loại này. Dứt khoát-trên cơ sở luật định- đối xử với các DN đó hoàn toàn bình đẳng như các DNTN khác, đặc biệt trong việc tiếp cận vốn, bảo lãnh vay vốn, cấp đất, giải quyết nợ nần, phá sản và cạnh tranh. 



-Định hướng hoạt động quản lý hành chính công theo nhu cầu thực tế của người dân.



Đẩy mạnh cải tiến hệ thống quản lý hành chính công không phải theo hướng giải quyết nhanh chóng các trở ngại như ta đang làm, mà là xóa bỏ các trở ngại. Do các trở ngại này- cho đến nay- nẩy sinh chủ yếu do áp đặt suy nghĩ chủ quan phi thực tế của Nhà nước, nên nguyên tắc để xóa bỏ chúng phải là quản lý hành chính công để đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân chứ không phải đáp ứng chính sách Nhà nước nữa.



Một trong những hệ quả quan trọng của nguyên tắc này là phải tạo điều kiện cho người dân, Tổ chức phi chính phủ, Hiệp hội trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành quyết sách, kiểm soát việc thực hiện, kiểm tra kết quả hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước.

 

-Từng bước- phù hợp với cải cách tư pháp- tản quyền cho địa phương.



Tản quyền là xu thế chung hiện nay tại các nước phát triển. Họ cũng muốn các nước khác làm theo. Tuy nhiên, đây là điểm cần hết sức thận trọng.



Trước tiên, nên lưu ý rằng trước khi bắt đầu quá trình tản quyền mạnh cho địa phương như hiện nay, các nước phát triển đã có một hệ thống quản lý tập quyền hiệu quả với chính quyền trung ương rất mạnh. Họ tản quyền do đòi hỏi của thực tiễn cho thấy hệ thống quản lý tập quyền dù hiệu quả cũng không còn đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển trong thời đại Toàn cầu hóa nữa.



Tiếp theo, các nước này đã có một hệ thống pháp luật rất mạnh; người dân, các Hiệp hội, Tổ chức phi chính phủ được trực tiếp tham gia mạnh mẽ vào hệ thống kiểm soát hoạt động của Nhà nước,do đó phát huy được lợi ích khi tản quyền cho địa phương.



Cuối cùng, việc tản quyền cho địa phương phải tuân thủ nguyên tắc quyền lực được trao là để hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể. Nhiệm vụ của địa phương được xác định theo các tiêu chuẩn sau:



-“Người trong cuộc”: Nhiệm vụ được trao cho chính quyền địa phương nào chịu tác động và ảnh hưởng trực tiếp của nhiệm vụ đó.

-“Năng lực hội nhập”:  Nhiệm vụ được trao cho địa phương nếu không có nó, địa phương đó bị ảnh hưởng mạnh đến cơ hội phát triển, hội nhập.

-“Độ tin cậy”:  Nhiệm vụ được trao cho địa phương nơi chính quyền có khả năng hiểu rõ nhất các đặc trưng của địa phương, có khả năng hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ.

-“Bình đẳng”: Nhiệm vụ được trao cho địa phương nào mà nếu không có nó thì rõ ràng địa phương đó bị đối xử không bình đẳng với các địa phương khác.



Chính quyền trung ương chỉ nhận lấy một nhiệm vụ của địa phương khi địa phương đó không thể hoàn thành hoặc hoàn thành kém hiệu quả nhiệm vụ đó (Nguyên tắc hỗ trợ).



Hiện nay, việc phân quyền cho địa phương sẽ đem lại nhiều bất lợi, gây thiệt hại và khuyến khích tham nhũng hơn khi hệ thống pháp luật của Việt Nam còn chưa hoàn thiện; luật hành chính còn chưa phát huy tác dụng; rất khó thi hành án đối với cơ quan công quyền; chưa đủ các điều kiện luật định để bảo đảm tính công khai, minh bạch và khả năng truy cứu trách nhiệm đến cùng; chưa đủ cơ sở cho sự tham gia kiểm tra, kiểm soát hoạt động Nhà nước của các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội.



Nên xem xét lại việc phân quyền quyết định cho địa phương về đất đai và dự án đầu tư, bỏ việc phân cấp quyết định theo qui mô vốn đầu tư mà nên theo các tiêu chí phân quyền nói trên. Việc tản quyền cần thực hiện từng bước một cách thận trọng tùy thuộc vào kết quả việc xây dựng được cơ sở pháp lý, các điều kiện bảo đảm tính công khai, minh bạch và có thể truy cứu trách nhiệm đối với hoạt động của chính quyền từng địa phương. Không thể làm nhanh, làm đại trà.



Riêng đối với việc cấp đất làm dự án, ta nên thành lập một Ủy ban quốc gia độc lập, mà thành viên là đại diện của các tầng lớp nhân dân, có thẩm quyền quyết định cao nhất thẩm tra dự án và giải quyết các khiếu nại liên quan đến đất đai.



Thứ hai, cần kiểm soát việc sử dụng quyền lực công, bảo đảm sự minh bạch, trách nhiệm giải trình, chứng minh, và khả năng truy cứu trách nhiệm đến nơi đến chốn:



-Mở rộng chức năng của Quốc hội như một cơ quan giám sát và kiểm soát hoạt động chống tham nhũng:



Tăng cường một cách có hệ thống khả năng kiểm soát và giám sát của quốc hội, đặc biệt là về ngân sách hàng năm. Quốc hội cần thực hiện luật ngân sách hàng năm. Quyết định phân bố ngân sách hàng năm của quốc hội nên được ban hành như một đạo luật ngân sách mà chính phủ phải tuân thủ. Việc bội chi của chính phủ phải được coi như một ngoại lệ cần được chính phủ giải trình, chứng minh sự hợp lý  trước khi được Quốc hội quyết định chấp nhận.



Thành lập trung tâm lưu trữ, phân tích và đánh giá số liệu, thông tin của Quốc hội liên quan đến ngân sách, các dự án, chương trình mua sắm công,… sao cho nó trở thành trung tâm lưu trữ, phân tích đánh giá thông tin đầy đủ nhất, có hệ thống và đáng tin cậy nhất trong các lĩnh vực đó.



Tạo điều kiện để công dân, các tổ chức phi chính phủ, báo chí, dễ dàng tiếp cận với các thông tin, phân tích của Trung tâm lưu trữ của Quốc hội.



-Đảm bảo các cơ sở pháp lý cho sự minh bạch như: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền tự do tiếp cận thông tin; quyền được bảo vệ của nhân chứng, của người tố giác tham nhũng…






Hình minh họa. Nguồn: ttxvh.org



-Cải cách hệ thống hành chính công.



-Thay đổi căn bản về nhận thức: hành chính công không phải là để quản lý mà để phục vụ nhu cầu của người dân, của xã hội.



Luật hóa và công khai tiêu chuẩn bổ nhiệm, qui trình bổ nhiệm cán bộ, công chức Nhà nước, cán bộ đảng các cấp thống nhất trong cả nước.



Thành lập Cục thi tuyển công chức quốc gia chịu trách nhiệm mở các cuộc thi tuyển công chức cho các cơ quan Nhà nước. Ban hành tiểu chuẩn tuyển dụng và thi tuyển công chức thống nhất chung trong cả nước. 



Luật hóa tiêu chí xác định sự hợp pháp của một hoạt động của cơ quan công quyền. (Mục tiêu chính danh, Thích hợp để đạt mục tiêu, Cần thiết, Gây ít thiệt hại nhất.)



Ban hành luật đãi ngộ đối với công chức, trong đó không nên đặt nặng việc đảm bảo tiền lương cao, mà tập trung xây dựng một chế độ đãi ngộ ưu tiên ngoài lương ngắn liền với tinh thần trách nhiệm, hiệu quả làm việc, thời gian làm việc của công chức. (nên tham khảo chế độ đãi ngộ công chức của Nhật và Đức).



-Truy cứu trách nhiệm.



Nâng cao khả năng truy cứu trách nhiệm qua việc tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ cơ quan công quyền và hệ thống kiểm soát của xã hội, đặc biệt là vai trò của báo chí, bằng các đạo luật thích hợp.



Cải cách hệ thống hành chính công. Không thể nói đến truy cứu trách nhiệm của Nhà nước, của công chức, nếu chỉ cho phép người dân kiểm soát và nếu cần thì khởi kiện yêu cầu Tòa hành chính kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của một vài hoạt động quản lý hành chính như hiện nay. Cần thực hiện nghiêm túc một nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền là toàn bộ hoạt động của Nhà nước phải được đặt dưới sự kiểm soát của người dân, dưới sự kiểm tra của Tòa án. Vì vậy một trong những điều kiện bảo đảm cải cách hành chính thành công là cho phép và bảo đảm cho người dân quyền khởi kiện bất cứ hoạt động quản lý hành chính nào.



Nêu cao trách nhiệm tự ràng buộc trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, công chức-kể cả ở cấp cao nhất- vào việc đấu tranh chống tham nhũng, lấy điều này làm một trong những điều kiện để được hưởng chế độ đãi ngộ cao.



Công khai tài sản. Việc này phải được luật hóa và thực hiện một cách công khai, nghiêm túc, đến nơi đến chốn. Luật công khai tài sản nên có qui định tất cả các tài sản của công chức mà không được khai báo sẽ không được công nhận là tài sản của người đó nữa.



Thứ ba, xây dựng Nhà nước pháp quyền



Công nhận quyền tư hữu đất đai. Xây dựng hệ thống Tòa án độc lập, hoàn chỉnh bao gồm cả Tòa Hiến pháp. Cho phép khởi kiện mọi hành vi, hoạt động quản lý Nhà nước. Sửa đổi bổ sung Luật Cạnh tranh: chiếm lợi thế cạnh tranh bằng hành vi vi phạm pháp luật là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Sửa đổi, bổ sung luật hình sự, luật công chức, sao cho rủi ro khi tham nhũng là rất lớn và lợi ích kinh tế của tham nhũng nhỏ hơn rất nhiều so với cái giá phải trả khi bị trừng trị. Tạo điều kiện để người nghèo dễ dàng bảo vệ quyền lợi của mình bằng con đường Tòa án.



Thứ tư, kiểm soát và cân bằng quyền lực Nhà nước với sự tham gia tích cực của các tác nhân phi chính phủ. Nâng cao ý thức công dân, tạo điều kiện cho xã hội dân sự kiểm soát hoạt động của cơ quan công quyền.



Ý thức được tham nhũng là vô đạo đức, đáng bị lên án. Đây là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm chống tham nhũng có hiệu quả. Nhưng như đã phân tích ở trên, hiện nay nó lại là một trong những trở ngại lớn nhất cho cuộc chiến chống tham nhũng ở ta. Vai trò của người dân, của các Hiệp hội, tổ chức phi chính phủ giữ một vai trò quan trọng nhất trong việc xây dựng ý thức về chống tham nhũng. Cần tạo điều kiện luật định tối đa (theo nghĩa nếu chính quyền địa phương không tạo điều kiện thì sẽ bị kiện ra Tòa) cho các nhân tố này. Đối với các tổ chức quần chúng của Nhà nước như Mặt trận TQ, Đoàn thanh niên,… kết quả tuyên truyền, xây dựng ý thức về chống tham nhũng cho người dân nên là tiêu chí đánh giá hoạt động.



Bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin không hạn chế.



Kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên trách chống tham nhũng với các tổ chức phi chính phủ, với cá nhân. Đặc biệt cần có qui định pháp lý rõ ràng về trình tự cung cấp thông tin liên quan đến vụ việc tham nhũng giữa các cơ quan chống tham nhũng- đặc biệc là Trung tâm lữu trữ của Quốc hội- với người dân và tổ chức của họ.



Thứ năm, chống tham nhũng phải là một phần quan trọng trong chiến lược chống đói nghèo



Tham nhũng vừa là nguyên nhân gây nghèo đói, vừa ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề đến người nghèo. Các biện pháp phòng chống tham nhũng cần kết hợp chặt chẽ với các biện pháp xóa đói giảm nghèo.






Tham nhũng là nguyên nhân gây nghèo đói. Hình minh hoạ. Nguồn: sgtt.vn.com



Thứ sáu, đối thoại, kết hợp chặt chẽ với cơ quan cung cấp viện trợ của nước ngoài



Ký kết các hiệp định song phương đa phương với các nước cấp viện, trong đó qui định cụ thể việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế mới cho việc phòng chống và trừng phạt tham nhũng. Đặc biệt là các qui định về cạnh tranh quốc tế, chống hối lộ cán bộ, công chức nước ngoài…



Tạo điều kiện ràng buộc nước cấp viện cùng chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn của họ tại Việt nam.



Ràng buộc nước cấp viện vào trách nhiệm bảo đảm không dành ưu đãi cho các công ty của nước cấp viện. 



Gia nhập các hiệp định quốc tế chống tham nhũng, chống đói nghèo.



Chống tham nhũng ở Việt Nam là một cuộc chiến sinh tử đòi hỏi: cải tổ một cách cơ bản hệ thống xã hội-chính trị theo các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền dân chủ, xã hội công dân; những nỗ lực thật sự của cả xã hội để quay về với hệ giá trị đạo lý truyền thống; và một hệ thống tòa án độc lập.



Một vài biện pháp đề nghị trên đây có thể đặt những nền tảng ban đầu bảo đảm thắng lợi cho cuộc chiến này, ít nhất chúng cũng có thể hạn chế tham nhũng ở mức độ thấy được một cách rõ ràng. 






Hình minh hoạ. Nguồn demotix.com

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT