Khu Rừng Lau (Kỳ 263)

 


Kỳ 263


– Cá he là cá thế nào?

– Hình thù như con lợn, nhưng thực ra nó to bằng con bò.

– Ðó là cá biển?

– Nói là nửa sông nửa biển thì đúng hơn. Giới thuyền chài rất kính trọng loài cá này, tựa như dân chài ngoài khơi kính trọng cá ông. Phải rồi, chính vì thế mà lúc nãy tôi có ý nói với anh rằng đứng trước sông Rừng người ta thấy kính sợ chứ không khiếp sợ. Mỗi lần thuyền bơi ra giữa dòng thấy đàn cá he xuất hiện là từ ông lái đến những người đi thuyền đều nói lớn “Tốt tốt! Tốt tốt!” Không bao giờ cá he húc vào thuyền, không bao giờ cá he làm lật thuyền.

– Hay nhỉ?

– Bến đò Rừng còn ăn sâu vào tâm tưởng tôi vì một câu chuyện nữa, câu chuyện tình.

– Hay lắm, anh cho nghe tiếp đi.

– Tôi còn nhớ dạo đó vào Tháng Hai năm 1945, sắp tới ngày Nhật đảo chính tụi Pháp, và Sở Ðúc Quảng Yên đã bị phi cơ Ðồng Minh dội bom chỉ còn chơ vơ những tường nhà máy đen kịt máu hắc ín. Thầy tôi bán một chiếc nhà ở Phố Hàng Da Hà Nội, trao tiền cho tôi mang về quê gấp để mẹ tôi kịp tậu ruộng vào một dịp may giá hời. Tôi tới Hải Phòng thì chiều tà, rủi thay, chiếc tầu thủy đi Quảng Yên đã nhổ neo. Một cô gái cũng cùng cảnh ngộ với tôi, cô muốn về Quảng Yên sớm chừng nào hay chừng ấy. Khi trời đã tối hẳn và chúng tôi đã ăn no, hai đứa quyết sang bến đò Bính rồi đi dưới trăng lu về bến đò Rừng. Tới đây chúng tôi sẽ vào quán trọ đợi sang sông bằng chuyến đò thứ nhất sớm hôm sau.

– Từ bến đò Bính đến bến đò Rừng khoảng cách bao xa?

– Chỉ chừng mười tám hay hai mươi cây số là cùng. Thoạt dời bến đò Bính, chúng tôi qua núi Ðèo, trên núi Ðèo có đồn Tây cũ, dân địa phương vẫn gọi là đồn Thủy Nguyên thuộc Kiến An, vùng này con gái có tiếng là đẹp, không phải cái đẹp huê tinh nghệ thuật của con gái Bắc Ninh mà là cái đẹp lồ lộ kêu gọi xác thịt của xứ đồng chua nước mặn!

– Ồ hay lắm! Ði với phái yếu hết được con đường hai chục cây số đó cũng phải hết đêm.

– Vâng gần hết đêm, anh nói đúng. Ðường hẹp và vắng, trăng lu, rải rác có những trạm đồn binh Nhật. Suốt dọc đường chúng tôi nói chuyện liên miên, riêng tôi, tôi nói rất lớn, tiếng vang khá xa sang hai bên vệ đường.

– Chắc là để cho bớt sợ?

– Có thể là cho nhiều thứ: cho bớt sợ; cho lính canh Nhật dễ ức đoán rằng đây là những người dân thường ở một làng kế cận nào đó đi về muộn; để chứng tỏ với cô bạn đồng hành rằng lòng mình… thanh thiên bạch nhật.

– Phải rồi, đi với người đẹp trên đường khuya hẹp và vắng, dưới ánh trăng lu mà cả hai cứ lùi lũi đi, dễ sinh ý nghĩ tà khuất lắm.

– Còn để cho quên mỏi chân nữa! Chúng tôi cũng mỏi chân lắm mà không dám nghỉ. Nhưng nói mãi rồi cũng thấy mỏi miệng và hết chuyện, câu chuyện trở thành nhát gừng. Tôi mặc pardessus dạ, khi đi được mười cây số đã thấy nóng người, nhưng bên trong cộm tiền, không dám cởi ra. Khi còn cách bến đò Rừng chừng ba cây số, tôi thoạt nghe như có tiếng cành cây khô gẫy nhẹ. Thực ra nếu phải đi một quãng đường ngắn thì chắc chắn chúng tôi bỏ qua tiếng động nhỏ đó, nó chẳng quan trọng gì hơn tiếng lá rụng. Ba lần chúng tôi đi qua ba lùm cây và mỗi khi vừa qua khỏi một vùng bóng tối là một lần có tiếng cành khô gẫy nhẹ như vậy. Cô bạn đồng hành nói khẽ: “Tôi nghe như có tiếng gì là lạ.” Tôi đáp: “Vâng, có thế!” Chúng tôi tiếp tục đi, tới lùm cây thứ tư, chúng tôi không bảo nhau mà cùng đi chậm lại, vẫn làm vẻ như nhìn thẳng nhưng cùng kín đáo liếc quan sát lùm cây. Tôi chợt lạnh người, chắc chắn cô bạn đồng hành cũng vậy, máu muốn đông lại trong huyết quản, nếu dừng lại lúc đó tất khuỵu gối xuống, nhưng tôi gắng trấn tĩnh tinh thần tiếp tục bước, dùng vai đẩy cô bạn tiếp lên cùng một nhịp: chúng tôi thấy lẩn dưới lùm cây một hình người đứng im như tượng, tay lăm lăm cầm ngang khẩu súng có cắm lưỡi lê dài, đó là tên lính Nhật đứng phục kích. Chúng tôi vừa bước xa lùm cây vài bước là nghe thấy tiếng “cành cây khô gẫy nhẹ” quen thuộc, mật hiệu của tên ở lùm cây này báo cho tên ở lùm cây kia biết có người đi tới. Chúng tôi sợ là phải vì với những thành tích giết người không gớm tay của lính Nhật ngày đó, vẫn cùng thứ ám hiệu nhưng điệu hơi xô lệch đi là có thể cho tên lính ở lùm cây kế tiếp bất thần nhảy ra… Biết rằng chúng tôi có kịp kêu lên một tiếng trước khi mũi lưỡi lê đen nhánh xỉa đúng tim và báng súng phang nát mặt? Tôi nói khẽ với cô bạn: “Chúng ta phải tiếp tục nói chuyện,” rồi bất giác chúng tôi cùng khoác tay nhau như vợ chồng và vừa đi vừa cố moi chuyện ra mà nói, giọng tôi cố làm cho lớn, nhưng không lớn bằng lúc dời bến đò Bính, (e có thể chọc giận những tên lính phục kích).

Tiếng “cành khô gẫy nhẹ” vẫn tiếp tục bám vào sau gáy mỗi lần qua khỏi một lùm cây. Rồi ánh đèn quán trọ bến đò Rừng le lói phía xa. Chúng tôi rảo cẳng hơn, lòng hồi hộp nhưng đã thấy vững dạ. Chúng tôi bước vào ánh đèn quán trọ mà tay còn khoác bên nhau, khi cả hai cùng sực nhớ, cô bạn đồng hành đỏ mặt ngượng ngùng rút vội cánh tay ra. Chỉ chừng hơn một tiếng sau, chúng tôi sang ngang chuyến đò đầu tiên. Con thuyền rời bến, đi vào vùng khói sóng mung mung mạc mạc.

Bỗng mọi người nhao nhao: “Tốt tốt! Tốt tốt!” Họ vừa thoáng thấy luồng sóng cá he lướt đi cách thuyền không xa. Hai chúng tôi – khi đó ngồi bên nhau – cũng cất tiếng hòa theo mọi người “Tốt tốt! Tốt tốt!” Trong sương khói ban mai như vậy, tôi làm sao nhìn được hình cá he lướt sóng, nhưng tôi ôn lại trong trí mấy lần qua sông vào buổi trưa, trời trong xanh, nước trong xanh, và có lần với điệp khúc “Tốt tốt! Tốt tốt!” tôi thấy con cá he cực lớn bơi giỡn ngửa bụng một lần nữa nhưng tít phía xa. Với khối lượng bằng con bò đó, với tốc độ như mũi tên đó mà nó cố tình húc vào thuyền thì chỉ có thuyền bọc sắt họa chăng mới kham nổi.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT