Luật Hiến Pháp
Luật Sư LyLy Nguyễn
Căn bản của luật hiến pháp là làm thế nào lập một chính quyền vừa đủ mạnh để tạo công ích cho dân chúng nhưng đồng thời cũng hạn chế không cho vượt quá quyền hạn làm những điều ngược lòng dân. Ðiều chính yếu người dân mong muốn nhất là không bị nhà nước xâm phạm đến dân quyền. Vậy thì những quyền nào của người dân được luật hiến pháp bảo vệ?
Bất cứ điều khoản nào của hiến pháp cũng ấn định một quyền dân thí dụ như Tu Chính Thứ Nhất bảo đảm quyền tự do ngôn luận chẳng hạn. Dân quyền được xếp thành hai loại gồm có quyền về thủ tục (process rights) là những thủ tục pháp lý mà chính phủ bắt buộc phải tuân hành khi đối xử với một người dân. Loại thứ hai gọi là luật đặt và định quyền hạn nhiệm vụ (substantive rights) ấn định những lãnh vực tự do mà chính quyền không được xâm lấn vào bất luận lý do gì. Thí dụ như chính phủ không được tự tiện cắt ngang tiền an sinh xã hội (social security benefits) của một người đang được hưởng chỉ vì sở an sinh xã hội cho rằng người thụ hưởng không còn hội đủ điều kiện nữa. Trước khi tiền ấy bị cắt thì người ấy được quyền hiến định bảo đảm phải được chính phủ thông báo trước với lý do chính đáng và cho quyền khiếu nại nếu không đồng ý. Ðây là một quyền về thủ tục; một thí dụ khác nếu chính quyền bắt buộc dân chúng phải đi lễ nhà thờ chẳng hạn thì chính phủ đã vi phạm quyền luật đặt vì cho dù có thông báo hay dùng pháp lệnh cũng không ép buộc được người dân phải theo tôn giáo khác. Hai trong những quyền về thủ tục rất quan trọng là “quyền được xét xử theo luật” (due process) do Tu Chính Thứ Năm và “quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật” (equal protection of the laws) do Tu Chính Thứ Mười Bốn ấn định. Quyền xử theo luật có nghĩa là chính phủ trước khi kết tội hay đối phó một công dân phải cho người này được xét xử trước một tòa án vô tư và công minh.
Quyền được xét xử theo luật – Ðiều Tu Chính Thứ năm có định rằng “Không một ai có thể bị tước đoạt sinh mạng, sự tự do, và tài sản mà không được xét xử phân minh.” Ðiều Tu Chính Thứ Mười Bốn còn thêm “không một tiểu bang nào được tước đoạt sinh mạng, tự do và tài sản của ai mà không cho xét xử công bằng.” Phần lớn những từ ngữ chính trong hai câu trên như “tự do”, “tài sản”, “quyền được xét xử” đều mơ hồ vì điều khoản luật cho quyền được xử án xác định rõ sinh mạng, tự do, tài sản của mọi người đều được luật pháp bảo vệ không cho chính phủ lấy đi nếu không xét xử theo luật định. Ðiều này có ý nghĩa cấm chính phủ không được lấy đi sinh mạng, tự do, tài sản của một người nhưng cũng có ý nghĩa rằng chính phủ vẫn có quyền lấy đi sinh mạng, tự do, tài sản nếu đã xử án công minh mà xét thấy bị can có tội. Ai cũng biết rằng chính quyền tiểu bang có quyền bỏ tù một tội phạm, tịch biên vũ khí và phương tiện dùng để đào tẩu, hơn nữa có thể đưa ra tòa lãnh án tử hình. Hiến pháp đã cho chính phủ đầy đủ quyền hạn, kể cả quyền định đoạt sự sống chết của một cá nhân. Nhưng quyền hạn ấy bị hạn chế bởi quyền được xét xử, chẳng hạn trước khi tống giam một người vào tù thì chính phủ phải cho phép người ấy được ra trước một tòa án công bằng, bị can có quyền kháng cáo và có quyền yêu cầu một luật sư biện hộ nếu cần. Quyền được xử lập ra để kiểm soát chính sách nhà nước cùng các luật lệ hiện hành đem ra áp dụng đều chắc chắn có tính cách phân minh và đồng nhất.
Như vậy Hiến Pháp có bắt buộc chính phủ phải cho mọi người được đối xử công bằng không? Thực ra là không. Tuy nhiên hiến pháp có bảo đảm rằng “mọi người đều được luật pháp bảo vệ công bằng”.
Như vậy có gì khác biệt? Tu Chính Thứ Mười Bốn nguyên thủy được đặt ra sau cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ để giải quyết vấn đề nô lệ đã ngăn cấm không cho chính quyền tiểu bang “từ chối không cho người nào thuộc thẩm quyền tài phán mà không được luật pháp bảo vệ.” Trong hậu bán thế kỷ hai mươi điều khoản luật pháp bảo vệ bình đẳng đã là nguồn cội của nhiều điều luật khác phát huy dân quyền. Những cuộc đấu tranh cho dân quyền và các vụ phản kháng chống kỳ thị xẩy ra hàng loạt khắp nơi đều do căn bản đòi bảo vệ công bằng trước luật pháp. Tuy nhiên điều luật không bảo đảm rằng mọi người đều phải được đối xử công bằng tuyệt đối.
Trước hết quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật hạn chế chính phủ không được kỳ thị nhưng lại không cấm được kỳ thị trong lãnh vực tư nhân. Thí dụ như hiến pháp cấm tiểu bang không được kỳ thị dân da đen, nhưng đảng Klu Klux Klan thuộc lãnh vực tư nhân vẫn cứ kỳ thị dân da đen bất chấp hiến pháp. Tuy vậy dầu sao điều luật hiến pháp vẫn có ảnh hưởng gián tiếp giới tư nhân. Khi một cá nhân đòi quyền được đối đãi công bằng mà chính quyền bắt buộc thi hành thì tòa án sẽ coi như chuyện của tiểu bang. Thứ hai, câu “bảo vệ bình đẳng trước pháp luật” có nghĩa rằng khi chính phủ ban hành một đạo luật, lập ra một kế hoạch hay có hành động nào thì phải đối xử công bằng với tất cả mọi người dân trong vấn đề liên quan tới luật đó. Tuy nhiên chính phủ cũng không bị bắt buộc phải đi ra ngoài đường hướng đã định để sửa đổi lại những gì đã làm dân bị thiệt. Chính phủ không kỳ thị trên căn bản sắc tộc nhưng hiến pháp cũng không bắt buộc chính phủ phải ban hành luật khác để sửa lại nhầm lẫn. Thứ ba là lý do quan trọng nhất, chính phủ có thể “kỳ thị” bằng cách đối xử khác biệt với một nhóm nếu có lý do. Thí dụ những ai về hưu vào tuổi 65 thì được hưởng tiền an sinh xã hội, còn những người nghỉ làm vào tuổi 45 thì dĩ nhiên không được hưởng. Một trường đại học lấy học phí đắt hơn đối với sinh viên ngoài tiểu bang đến chẳng hạn là thí dụ cho thấy chính quyền liên bang và tiểu bang có thể đối đãi khác biệt theo từng nhóm, và như vậy chính phủ không bị bắt buộc phải đối xử với mọi người như nhau mà phải đối xử công bằng cho những người cùng một hoàn cảnh, trường hợp giống nhau. Nên nhớ căn bản luật hiến pháp ban cho chính phủ vừa đủ quyền hạn đồng thời cũng đặt giới hạn quyền lực thi hành không cho quá lố. Mọi người muốn chính phủ phát triển xa hơn những vấn đề hữu ích cho dân, nhưng những điều đó cần phải xác định rõ những lợi điểm cho thành phần này mà bất lợi cho thành phần khác. Ðiều cốt yếu là dân chúng không muốn những điều lợi và bất lợi đem ra thi hành trên những căn bản có tính chất không ích lợi cho dân hay trái với lương tâm và đạo đức.
Tuần tới chúng tôi tiếp tục phần tìm hiểu dân quyền với các quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và những quyền hiến định khác. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.
Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F. Santa Ana, CA 92706, ÐT: (714) 531-7080.





















































































