Luật Sư LyLy Nguyễn
Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang cũng như đã nhiều lần diễn thuyết về các vấn đề giao dịch thương mại, ngân hàng, thuế và điều hành tài sản tại nước ngoài. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080.
Bản Dân Quyền được thông qua để xác định rõ những điều chính phủ không thể xâm phạm đến những quyền căn bản của người dân. Trong Tu Chính Thứ Nhất của Hiến Pháp có lẽ tự do ngôn luận là dân quyền căn bản nhất vì đóng vai trò bảo đảm cho các dân quyền khác trong việc tranh luận chính trị hay chỉ trích chính phủ.
Ðiều ngạc nhiên là lịch sử không ghi lại rõ ràng cho lắm về hình thành của Bản Dân Quyền trong Tu Chính Thứ Nhất ra sao. Vài học giả diễn giải rằng Bản Dân Quyền được đặt ra để ngăn ngừa không cho chính phủ trực tiếp cấm dân chúng phê phán dù rằng sau đó chính quyền có thể phạt họ vì nội dung những gì họ nói. Một số người khác nhận định rằng những nhà làm luật tại quốc hội có chủ ý phát động nguyên tắc tự do ngôn luận một cách rộng rãi hơn để dân chúng có quyền tự do chỉ trích chính phủ mà không bị áp chế. Nhưng dù ý nghĩa nguyên thủy ra sao điều luật tự do ngôn luận ở Hoa kỳ cũng đã bị nhận chìm trên hơn trăm năm cho tới Thế chiến thứ nhất mới nổ ra những vụ án về tự do phát biểu tư tưởng. Chỉ từ lúc đó Tối Cao Pháp Viện mới nới rộng nội dung điều luật bảo vệ quyền tự do ngôn luận một cách đáng kể.
Có vài lý thuyết về tự do ngôn luận được các thẩm phán đưa ra để giải thích và hướng dẫn việc phát triển điều luật tự do ngôn luận. Trường phái cổ điển cho rằng tự do ngôn luận tạo ra một diễn đàn tư tưởng theo đó nhiều bề mặt khác nhau của sự thật và của những cuộc tranh đấu chính đáng có nhiều người ủng hộ hơn. Quan điểm này được dựa theo biện luận của Chánh Án Tối Cao Pháp Viện Oliver W. Holmes trong vụ Abrams v. United States (1919) bào chữa cho những kẻ chống đối rải truyền đơn kêu gọi công nhân đình công phản đối chính phủ Mỹ can thiệp chống lại tập đoàn Bolsheviks ở Nga. Khi xử vụ đó đa số chánh án Tối Cao Pháp Viện đồng ý kết tội những kẻ rải truyền đơn nhưng Chánh Án Holmes biện hộ với lập luận rằng tự do tư tưởng đưa đến lợi ích sau cùng là tìm ra chân lý trong những cuộc tranh đấu tư tưởng.
Ðó là một cách thử duy nhất xem tư tưởng nào được công chúng chấp nhận mà mọi người không biết trước được nên chính phủ phải cho tất cả mọi khuynh hướng tư tưởng được tranh luận tự do.
Trong những năm gần đây có một lý thuyết thứ nhì cho rằng lập luận diễn đàn tư tưởng trên quá hạn chế vì theo đó tự do ngôn luận chỉ là công cụ trong việc diễn đạt các quyết định chính trị. Lý thuyết này cho rằng tự do ngôn luận có giá trị độc lập trong việc xác định phát huy nhân phẩm và đẩy mạnh sự phát triển cá nhân. Cho dù có theo lý thuyết nào đi nữa định nghĩa nội dung sự bảo đảm tự do ngôn luận vẫn rất khó khăn. Ngôn luận có nhiều dạng khác nhau thí dụ điển hình như một người diễn thuyết quan điểm chính trị, một kẻ hô hào tuyên truyền trước đám đông, một tờ báo lá cải đăng tải tin giật gân về đời tư một tài tử điện ảnh, một kẻ bất chính đăng quảng cáo bịp người nhẹ dạ… Ngôn luận theo tinh thần của Tu Chính Thứ Nhất có thể kể cả vài hành động không lời như việc đốt quốc kỳ, đốt thẻ trưng binh quân dịch, hay làm những hành động mất thuần phong mỹ tục nơi công cộng.
Vậy thì hình thức nào của tự do ngôn luận được Hiến Pháp bảo vệ tránh khỏi sự can thiệp của chính phủ và những bảo đảm này có hiệu lực tới đâu? Luật tự do ngôn luận không cho liên bang và tiểu bang ngăn cấm hay hạn chế diễn đạt tư tưởng qua nhiều hình thức. Trước hết chính phủ không được ngăn cấm trước một cuộc phát ngôn dù rằng sau đó có thể trừng phạt người nói sau khi sự việc đã xẩy ra. Thứ hai, chính phủ không được cấm cản việc phát ngôn với lý do dựa vào nội dung bài nói. Thứ ba, chính phủ có thể hạn chế thời gian, địa điểm, và phương cách phát ngôn nhưng chỉ trong trường hợp có lý do rõ rệt. Tuy nhiên luật tự do ngôn luận không cho ngăn cản trước, có nghĩa là chính phủ có thể trừng phạt một người về tội phát ngôn hay ấn hành tài liệu có tính cách xúi giục chống chính quyền hoặc có tính cách phỉ báng, nhưng không được kiểm duyệt hay ra lệnh ngăn cấm trước không cho ấn hành. Theo luật cấm ngăn cản tiên quyết, chính phủ không được cấm trước việc diễn đạt tư tưởng dù sau đó có thể phạt người nói vì nội dung tư tưởng đó. Tối Cao Pháp Viện tuy nhiên có ngoại lệ cho phép được ngăn cấm tiên quyết trường hợp có tính chất tục tĩu, khiêu dâm hay là quảng cáo thương mại.
Loại bảo vệ tự do ngôn luận thứ hai là cấm chính phủ không được kiểm soát nội dung bài phát ngôn. Trừ trường hợp ngoại lệ, chính phủ phải giữ tính cách trung lập với lời diễn đạt tư tưởng, có nghĩa là không thiên vị hay bác bỏ bất cứ quan điểm nào. Lấy thí dụ chuyện đốt cờ vào năm 1984 tại đại hội đảng Cộng Hòa thời Tổng Thống Reagan có một người tên là Gregory Lee Johnson đã tẩm dầu vào một lá quốc kỳ Mỹ rồi nổi lửa đốt trong khi đám biểu tình la hét nhục mạ lá cờ. Johnson bị ra tòa lãnh một năm tù ở và $2,000 tiền phạt về tội phỉ báng quốc kỳ (Texas v. Johnson). Johnson kháng án lên Tối Cao Pháp Viện vào năm 1989, tòa này đã xử ngược bản án vì cho rằng tiểu bang Texas vi phạm Tu Chính Thứ Nhất. Mặc dù tiểu bang tranh luận rằng hành động của bị can có thể gây công phẫn nơi quần chúng vì quốc kỳ là biểu hiệu quốc gia và tinh thần đoàn kết nhân dân, nhưng vẫn bị bác bỏ vì không chứng minh được việc đốt cờ là nguyên nhân gây ra tình trạng vô luật pháp, dù rằng việc này có thể đưa đến hậu quả đó. Do đó việc kết án Johnson bị coi là vi hiến vì có tính cách kiểm soát trực tiếp nội dung tư tưởng. Mặc dù không kiểm soát được nội dung ngôn luận nhưng chính phủ có quyền kiểm soát giờ giấc, địa điểm và phương cách phát biểu. Lấy trường hợp một kẻ dùng loa phóng thanh hô hào giữa đêm khuya tại một khu dân chúng cư ngụ hay một nhóm biểu tình xuống đường vào giờ tan sở để phản đối cảnh sát giao thông dĩ nhiên không được chấp nhận vì chính phủ có thể hạn chế lối “diễn đạt tư tưởng” này mà không cần kiểm duyệt với một cách gọi là “biện pháp thay thế bớt hạn chế” (least restrictive alternative). Thí dụ như một thành phố có ý định ngăn ngừa xả rác nơi công cộng, chính quyền thành phố không cần ra lệnh tiên quyết cấm phát truyền đơn hay thư truyền tay để khỏi vi phạm quyền tự do ngôn luận, nhưng có thể dùng biện pháp thay thế là phạt vạ những người xả giấy ngoài đường.
Không phải tất cả mọi loại ngôn luận đều được Hiến Pháp bảo vệ. Giả sử có kẻ hăm dọa một người bắt nộp tiền nếu không sẽ tiết lộ bí mật đời tư, hoặc một tờ báo khiêu dâm đăng hình lõa thể của trẻ vị thành niên, dĩ nhiên không có quyền đòi được bảo vệ dưới Tu Chính Thứ Nhất quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Ðể phân biệt được loại nào đáng cấm và loại nào không, trước hết tòa án bắt đầu bằng lý thuyết của Tu Chính Thứ Nhất. Trong phạm vi diễn đàn tư tưởng, mọi truyền thông đều có giá trị vì nó là một phần của công luận. Do đó những hành động không góp phần vào công luận sẽ không được xếp vào loại ngôn luận hữu ích cho quần chúng. Theo thí dụ trên việc hăm dọa tống tiền là đe dọa chung cho an ninh trật tự công cộng không có giá trị truyền thông cũng như đăng hình lõa thể trẻ vị thành niên không có tác dụng diễn đạt tư tưởng. Áp dụng nguyên tắc này Tối Cao Pháp Viện đã phán rằng lừa bịp, đe dọa cùng các cách diễn đạt ngôn luận có hại khác cũng như phỉ báng, hạ nhục, khiêu dâm, hay khích động quần chúng đều bất hợp pháp không được hưởng bảo vệ của Tu Chính Thứ Nhất.
Tuần tới chúng tôi tiếp tục phần tìm hiểu về quyền tự do tín ngưỡng và những quyền hiến định khác. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.
Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F. Santa Ana, CA 92706, ÐT: (714) 531-7080.





















































































