Bão Haiyan sẽ ‘thổi’ Hải Quân Mỹ trở lại Subic?


Võ Long Triều


Ngày 8 tháng 11 năm 2013 một cơn bão mạnh chưa từng thấy, tên gọi Haiyan, còn gọi là Hải Yến, tiếng Phi gọi Yolanda, với sức gió ước lượng 360 cây số giờ, quét các tỉnh ven biển Leyte và Samar, tàn phá Philippines một cách khủng khiếp, biến Tacloban với 200,000 dân số thành bình địa, gây thiệt hại lớn cho tỉnh Samar và nhiều nơi khác.

Cơn bão còn được mang tên là “Quái Vật” lớn mạnh nhứt, kinh hoàng nhứt, gieo chết chóc nhiều nhứt trong lịch sử. Tỉnh trưởng Tacloban, ông Tescon Lim, tuyên bố trong cơn hốt hoảng có tới 10,000 người tử nạn. Sau đó vài hôm, chính quyền Philippines điều chỉnh lại còn 4,460 người chết, 2,623 người bị thương, khoảng 11 triệu người đang chịu cảnh màn trời chiếu đất, vật lộn với đói khát và bệnh tật. Con số tử vong và nạn nhân kể trên còn có thể tăng. Tổng thống Philippines lên tiếng kêu gọi thế giới trợ giúp.

Lập tức Mỹ ra lệnh cho hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington với 5,000 thủy thủ và hai tàu tuần dương hỗ trợ, từ Hong Kong gấp rút tới Philippines vào chiều ngày 14 tháng 11, 2013, để bắt đầu chuyển hàng cứu trợ. Hàng không mẫu hạm Washington có máy lọc nước tạo khoảng 100,000 gallons nước uống mỗi ngày. Số máy bay và trực thăng chuyên chở, tìm kiếm người mất tích, tăng gấp 3 lần. Tin tức cho biết sẽ còn thêm 2,000 lính Thủy Quân Lục Chiến nữa, đến tăng cường trợ giúp. Cộng thêm 20 triệu Mỹ kim cứu trợ cho nhà nước Phi mua vật dụng và thực phẩm.

Ngày 13 tháng 11, Hải Quân Mỹ ra lệnh cho tàu bệnh viện USNS Mercy chuẩn bị lên đường trong vài ngày tới, sẽ đến Philippines vào tháng 12. Chuẩn Tướng Paul Kennedy, chỉ huy Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ở Nhật nói với Radio 5 live của BBC: Nỗ lực cứu trợ của Mỹ tới mức độ chưa bao giờ thấy áp dụng cho các cuộc khủng hoảng nhân đạo nào.

Biên tập viên Châu Á của BBC, Charles Scanlon nói, công cuộc cứu trợ của Hoa Kỳ bằng quân sự nhấn mạnh tầm vóc hoạt động quân sự và quan hệ lịch sử của Washington và Manila.

Trong khi đó, ngày 11 tháng 11, Trung Quốc nhanh chóng trích ra từ kho dự trữ tiền tệ của mình, lớn nhứt thế giới trị giá 3.7 ngàn tỷ Mỹ kim, vỏn vẹn có 100,000 Mỹ kim để trao cho Philippines với mục đích cứu trợ. Tạp chí Time của Mỹ phẫn nộ cho đây là một số tiền “đáng sỉ nhục.” Số tiền hỗ trợ lấy lệ này quá thảm hại so với tiền viện trợ của các quốc gia khác, kể cả các nước nghèo, khiến cho cộng đồng quốc tế chê cười Bắc Kinh không ít. Ðáng chê trách hơn nữa là Trung Quốc đã từng nhận của Philippines món tiền cứu trợ 450,000 Mỹ kim cho nạn nhân động đất ở Tứ Xuyên năm 2008.

Những con số cứu trợ sau đây, không thống kê chính thức nhưng có thể giúp hiểu được tầm quan trọng của sự tàn phá và sự hỗ trợ vì tình đồng loại giữa các quốc gia không cộng sản:

-Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (BDA): 500 triệu Mỹ kim cho vay lãi suất thấp, cho không 23 triệu.

-Úc: 9.3 triệu Mỹ kim bao gồm nhân viên y tế và hàng cứu trợ.

-Liên Minh Châu Âu: 17 triệu Mỹ kim. Cộng thêm một bệnh viện dã chiến của Pháp và Bỉ.

-Vatican: 4 triệu Mỹ kim.

-Nhật: 10 triệu Mỹ kim, trong có lều trại và chăn chiếu. Cộng thêm đội y tế 25 người.

-Nam Hàn: 5 triệu và 40 nhân viên y tế.

-Indonesia: 2 triệu và viện trợ hậu cần gồm máy bay, lương thực, máy phát điện và y phẩm.

-UAE: 10 triệu hàng viện trợ nhân đạo.

-Hoa Kỳ: 20 triệu và hỗ trợ hậu cần. Ðó là chưa kể các tổ chức phi chính phủ tại Mỹ đã quyên góp được 300 triệu Mỹ kim trị giá viện trợ.

-Anh: 16 triệu, trong đó có hàng viện trợ khẩn cấp.

Phóng viên R. Ranoco của thông tấn xã Reuters chê Trung Quốc “bần tiện” với Philippines, Bắc Kinh đang bỏ lỡ cơ hội mở mang “quyền lực mềm” của mình ở Ðông Nam Á.

Lúng túng vì bị kẻ chê người cười, và để tự chữa sự ngượng ngùng, Trung Quốc thông báo sẽ tăng số tiền “sỉ nhục” này lên 10 triệu nhân dân tệ, bằng 1.8 triệu Mỹ kim.

Ông Mark Beeson, giáo sư môn chính trị Ðại Học Murdoch ở Perth (Úc) cho rằng các quan chức trong Quân Ðội Nhân Dân còn hận Philippines đã kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên bãi đá Scarborough. Một số người Hoa trên mạng có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, cho rằng Philippines là một nước thù địch, “không nên cho họ một xu nào.” Một số người khác cam đoan một cách khờ khạo rằng Manila sẽ không biết ơn, mà còn dùng tiền viện trợ đó để mua vũ khí đánh lại Trung Quốc. Tờ Global Times, nhật báo chính thức có khuynh hướng cực đoan cho rằng Washington và Tokyo có những “mục đích khác” khi viện trợ ồ ạt là chủ trương mở rộng vùng ảnh hưởng chớ không phải vì nhân đạo.

Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định, Trung Quốc để cho yếu tố chính trị ảnh hưởng tới viện trợ nhân đạo là tự làm giảm uy tín của mình và làm mất sự tin cậy của các quốc gia khác trên thế giới. Ông Joseph Cheng, giáo sư khoa chính trị tại đại học City University ở Hong Kong cũng đồng ý như vậy. Thực tế Philippines đang chìm trong thảm họa thiên nhiên, và Trung Quốc cũng đang chìm trong thảm họa danh dự. Ông Jim Schoff, chuyên gia Quỹ Carnegie Vì Hòa Bình nhận định: Bắc Kinh cho họ là một đại cường quốc mạnh ngang với Hoa Kỳ, nhưng Bắc Kinh hoàn toàn không chứng minh được họ là cột trụ của khu vực, đó là một thất bại của họ.

Trung Quốc không biết và cũng không muốn sử dụng “quyền lực mềm”? Nó là một quá trình thu phục lòng người bằng những phương tiện khác hơn là quân sự và bạo lực. Trong khi đó, đầu óc của giới lãnh đạo Bắc Kinh chỉ nghĩ bành trướng, thu phục bằng cách lợi dụng, dối gạt, mua chuộc hoặc răn đe đàn áp với vũ lực. Ðầu óc của một tên Cộng Sản không hiểu được nhân đạo là gì? Tình đồng loại không có nghĩa đối với họ, bởi vì chủ thuyết Mác-Lê đã dạy, chỉ có bạo lực cách mạng mới chiếm được quyền bính và duy trì được sự cai trị.

Ðối với Trung Quốc chỉ có “ăn miếng trả miếng” không khi nào cho mà không có tính toán thu lợi. Cũng như Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội với ý đồ thôn tính về sau. Bằng cớ là Hà Nội chưa kịp lấy trọn miền Nam thì Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước, và Phạm Văn Ðồng đã phải công nhận cái bản đồ lưỡi bò từ lâu.

Với cách suy nghĩ đó Trung Quốc cho rằng Washington cứu trợ ồ ạt Philippines là có “mục đích khác” như báo Global Times đã ám chỉ. Bắc Kinh lo ngại Mỹ sẽ trở lại Vịnh Subic, một căn cứ hướng ra Biển Ðông, sẽ tác hại đến kế hoạch của Bắc Kinh quyết định gồm thâu 80% vùng biển do cái lưỡi bò của họ liếm gọn.

Thực tế tháng 11 năm 1992, Thượng Viện Philippines đã quyết nghị chấm dứt hợp đồng cho Mỹ thuê căn cứ Subic rồi.

Với tinh thần dân tộc thiển cận, Thượng Nghị Sĩ Aquino, nay là tổng thống, cho đó là một sự “giải thoát đất nước ra khỏi sự kềm kẹp” của những ông chủ thực dân.

Giờ đây, giới lãnh đạo Philippines lại muốn quân đội Mỹ trở lại Vịnh Subic, ngõ hầu tăng cường cho họ sức mạnh trong cuộc đương đầu với Trung Quốc trên Biển Ðông, nơi mà các tàu chiến Trung Quốc đã lập rào cản chắn bãi cạn Scarborough, một ngư trường giàu có nhứt thế giới.

Do đó, kể từ năm 1999, Philippines thông qua một thỏa thuận về những chuyến viếng thăm quân sự với Mỹ, cho phép hai nước tập trận chung với quy mô lớn. Dù không nói ra, nhưng Philippines mở rộng cửa đón tàu chiến Mỹ ra vào căn cứ Subic chủ yếu là ngầm đối phó với Trung Quốc.

Tướng Edilberto Adan, đã về hưu, nhưng hiện phụ trách ủy ban có trách nhiệm giám sát các cuộc tập trận chung Mỹ-Phi nói: Khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược “xoay trục sang Á Châu” thì căn cứ Subic sẽ đóng một vai trò quan trọng. Theo ông Adan, căn cứ nầy có thể cung cấp những dịch vụ mà tàu chiến hoặc máy bay của Mỹ cần. Những lời phát biểu mang đầy tính gợi ý được ông Adan đưa ra ngay trên tàu chiến USS Bonhomme Richard của Mỹ, tàu đổ bộ tấn công, đang tham gia tập trận chung kéo dài 10 ngày với các lực lượng Philippines.

Báo chí quốc tế đưa tin Bộ Ngoại Giao Philippines xác nhận việc khai triển luân phiên các lực lượng Mỹ tại Subic đã được tiến hành từ năm 2011. Ðồng thời báo giới cũng đặt câu hỏi liệu Philippines sẽ cho Mỹ thuê lại căn cứ hải quân Subic không?

Ngũ Giác Ðài không thấy có lợi trong việc trở lại căn cứ Subic; thứ nhứt là quá tốn kém trong bối cảnh phải cắt giảm ngân sách như hiện nay; thứ hai căn cứ cố định nói theo ngôn ngữ của giới quân sự là “con vịt buộc” làm mồi ngon cho tên lửa Trung Quốc, nhứt là sự nổi dậy mãnh liệt về quân sự của Bắc Kinh với hạm đội tàu chiến hiện đại, tàu ngầm hạch nhân, tên lửa đạn đạo, máy bay tàng hình, buộc các chiến lược gia Mỹ phải tính toán lại. Thay vì lập căn cứ bất lợi, thà ký hiệp ước thân thiện với các nước cho phép Mỹ được quyền tự do tiếp cận phi trường và hải cảng của họ khi tình huống bắt buộc.

Cho nên giới quân sự Hoa Kỳ nói: “cần một chỗ đứng, không cần một căn cứ”. Subic đã là một chỗ đứng từ năm 1999 rồi. Mỹ không đứng về phe nào nhưng khi xẩy ra xung đột thì đương nhiên Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ Philippines chiếu thỏa ước quân sự ký kết giữa đôi bên.

Ngoài ra, Hoa Kỳ còn chưa muốn làm cho Trung Quốc lo ngại quá đáng bởi vì Trung Quốc còn là đối tác thương mại và là ông chủ nợ lớn nhứt của Mỹ và Bắc Kinh còn là điểm quan trọng cho những mối đầu tư của các công ty xe hơi, máy bay, và bán lẻ của Mỹ.

Cho nên các chuyên gia quân sự, và nhà báo quốc tế tiên đoán Hoa Kỳ sẽ mướn lại căn cứ hải quân Subic, xét ra khả năng đó không có nhiều triển vọng.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT