Bệnh bạch đới

BS Ðặng Trần Hào


Bạch đới là bệnh của phụ nữ thường gây ra do tỳ khí hư hàn, chân tay hay lạnh, không năng động, im lìm ít nói, người cảm thấy nặng nề.

Thận khí suy cũng ảnh hưởng tới tỳ, làm tỳ khí suy theo gây ăn khó tiêu, lười ăn, ăn không thấy ngon, bắp thịt mềm nhẽo, không cứng cáp, gây đau nhức và yếu khi đi lại, nếu suy nhiều sẽ gây ra thấp đưa xuống hạ tiêu, ảnh hưởng tới âm đạo phụ nữ tiết ra chất dịch mầu trắng, dính, lượng nhiều thành dây dài như cái đai gọi là bạch đới, ngoài ra còn có thể gây ra do gan khí uất kết.

Sau đây là những trường hợp bệnh bạch đới thường gặp trong lâm sàng:

Do tỳ khí suy

Tỳ khí càng suy yêu thì bạch đới càng ngày càng ra nhiều, chất dính, không có mùi gì đặc biệt, suốt ngày không dứt, ăn không được nhiều vì tỳ khí suy không đủ nóng để kiện toàn tiêu hóa, tinh thần mệt mỏi, chân tay yếu không lực, lâu ngày gây thành thấp dồn xuống dưới rốn và đau bụng. Nếu dùng dầu nóng và xoa bóp cảm thấy dễ chịu. Lưỡi mập và rêu lưỡi dầy trắng. Mạch trầm trì.

Chủ trị: Bổ tỳ, thận khí và hóa thấp.

Bài thuốc

Ðảng sâm 12 grs
Phục linh 9 grs
Bạch truật 9 grs
Cam thảo 6 grs
Sài hồ 9 grs
Khiếm thực 12 grs
Ðỗ trọng 9 grs
Thương truật 9 grs
Sa nhân 9 grs
Hoài sơn 9 grs
Thỏ ty tử 12 grs
Trần bì 6 grs

– Ðảng sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo, đỗ trọng: Bổ tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa, thông điều thủy đạo, hóa thấp.
– Sa nhân, thương truật, trần bì: Ôn tỳ, tiêu thấp.
– Hoài sơn, Thỏ ty tử: Bổ thận.
– Khiếm thực: Thu liễm, trị bạch đới.
– Sài hồ: Xơ gan và bình gan.

Do gan uất, tỳ hư

Nếu bệnh do tỳ khí suy, công thêm với gan khí uất kết mà gây ra đới hạ lúc vàng lúc trắng. Gan điều hòa khí huyết trong cơ thể, nhất là kinh nguyệt, bất cứ vì lý do gì làm chức năng của gan bị xáo trộn như lo âu từ ngày nọ qua ngày kia, bực bội, giận dữ, uất ức làm can khí uất kết, gây cản trở khí huyết, cộng với tỳ khí suy, không thể duy trì các cơ bắp và kiện toàn tiêu hóa, lâu ngày hóa thấp đưa xuống hạ tiêu mà gây ra bạch đới, ăn không ngon, bụng sườn đầy trướng, chóng mặt, lạnh tứ chi, đi đại tiện lúc lỏng, lúc đặc, hoa mắt, nhức đầu. Ðới hạ ra trắng vàng lẫn lộn là do can uất và tỳ khi suy mà gây ra… Rêu lưỡi dầy trắng. Mạch trần trì, huyền.

Chủ trị: Bổ tỳ khí, giải uất và tiêu thấp

Bài thuốc

Chỉ xác 9 grs
Hương phụ 9 grs
Ðại phúc bì 9 grs
Hoài sơn 9 grs
Bạch truật 9 grs
Phục linh 9 grs
Xích thược 9 grs
Ðảng sâm 9 grs
Bạch đậu khấu 9 grs
Sài hồ 9 grs
Khiếm thực 12 grs
Cam thảo 6 grs

– Chỉ xác, hương phụ, đại phúc bì, sài hồ, xích thược: Tản khí, giáng khí tại trung tiêu, giảm bụng, sườn đầy trướng.
– Bạch truật, phục linh, đảng sâm: Bổ tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa.
– Bạch đậu khấu, hoài sơn: Tiêu thấp.
– Khiếm thực: Thu liễm, trị bạch đới.
– Cam thảo: Bổ khí và phối hợp các vị thuốc.

Do tỳ và thận khí suy

Phụ nữ đới hạ sắc trắng trong loãng, không có mùi, lượng nhiều và kéo dài nhiều tháng, đùi, đầu gối yếu, đi đứng không được vững chãi, ngồi dậy khó khăn, tinh thần mỏi mệt, đuối sức, đi tiểu nhiều lần, hay sợ lạnh, đôi khi lạnh cảm, không ham muốn tình dục, là do thận và tỳ khí suy, gây đới mạch mất sự co thắt, và thấp dồn xuống vùng hạ tiêu mà gây ra bạch đới. Rêu lưỡi dầy và trắng. Mạch trầm và trì.

Chủ trị: Bổ thận, tỳ khí và tiêu thấp.

Bài thuốc

Ðảng sâm 12 grs
Phục linh 9 grs
Bạch truật 9 grs
Cam thảo 9 grs
Quế bì 9 grs
Sa nhân 6 grs
Sài hồ 9 grs
Thăng ma 9 grs
Mẫu lệ 15 grs
Long cốt 15 grs
Bạch quả 15 grs
Hoàng bá 9 grs
Tri mẫu 9 grs
  
– Ðảng sâm, bạch truật, phục linh, quế bì: Bổ thận và tỳ khí, kiện toàn tiêu hóa, ôn tứ chi và tăng hoạt động.
– Sài hồ, thăng ma: Xơ gan và thăng khí.
– Sa nhân, hoàng bá, tri mẫu: Hóa thấp.
– Mẫu lệ, long cốt, bạch quả: Thu liễm, trị bạch đới.
– Cam thảo: Bổ khí và phối hợp các vị thuốc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT