Kỳ 4
Tôi không biết một tí gì về cái quê hương mẹ tôi kể lại như trong thần thoại ấy.
Anh tôi còn thuật lại cho tôi nghe những đêm giao thừa, anh được cầm bánh pháo rắc cho nổ quanh sân, và những sáng mùng một, mở mắt nhìn sương mù xanh biếc trước thềm, đêm lạnh làm cho mùi thơm của khói pháo không tan hết vương vất trong gió, những cụm hoa hồng bạch, hồng nhung, hồng nhạt, mẫu đơn, loa kèn, nhài, trổ những bông tươi thắm trên cành, nhìn thấy lờ mờ trong sương, cây đào bên đầu thềm sai chĩu chịt hoa, hoa đào rơi lẫn với xác pháo. Lũ chim bồ câu và mấy con chó nghe pháo nổ sợ hãi bay, chạy tán loạn, trở về còn nem nép nghểnh đầu, vểnh tai, nghe ngóng chực chạy nữa, ông tôi phải sai đóng cửa chuồng và xích chó lại.
Những ngày Tết thần tiên ấy, tôi chưa bao giờ được nhìn thấy, chỉ nghe kể lại, chẳng khác những cánh đồng, những thôn xóm, nơi đã sinh sản ra những câu ca dao tuyệt vời, tôi đã đọc, nhưng không biết có bao giờ được tận mắt nhìn thấy?
Người bác đem lại danh giá cho cả họ đó, những ngày mới di cư vào Nam, sống âm thầm trong một căn nhà nhỏ, thuê được trong một khu xóm lao động.
Cửa sổ phòng ông trông ra một cái sân, mỗi bề chừng bốn thước, vừa làm sân vừa làm cầu rửa. Ông đã tự tay xây thêm một cái bồn dính liền vào chân tường chỗ cửa sổ, đổ đất, trồng mấy cây hồng.
Mỗi ngày ông tưới bón bằng bã trà trút từ trong cái ấm nhỏ đắp vào các gốc cây và nước hứng trong một chiếc lon guigoz đục những lỗ thủng làm bình tưới.
Những cây hồng, vào các buổi tối tôi đến thăm ông, trổ bông tươi thắm nhưng trông buồn bã, chẳng khác những nỗi vui còn sót trong lòng ông quan già, sống ẩ
n náu trong căn nhà lụp xụp.
Tôi không hề trông thấy ông trong những ngày ông còn hiển hách nơi huyện đường, nhưng tôi vẫn tưởng như thấy được cái bóng của nó, trong buổi xế chiều này, đè nặng trên vai ông.
Ông tránh tiếp xúc với tất cả mọi người, kể cả con cái của chính ông. Ông chỉ còn giao thiệp, thỉnh thoảng đi lại trò chuyện với một người duy nhất là thầy tôi. Cũng vì thế tôi đã được gặp ông, nghe ông nói, và được ông hỏi chuyện nữa, trong những lần tôi theo thầy tôi đền thăm ông ngày con bé, và dần dà khi đã khá lớn, có những lần tôi được gặp ông một mình do thầy tôi sai tôi tới thưa với ông chuyên gì đó, hoặc tôi tự ý đến vấn an ông. Những lần được gập ông như thế, tôi thành thật cảm động. Không phải chỉ vì, đó là một vinh dự ít đứa cháu nào khác trong họ được hưởng, mà chính vì, mỗi lần gặp ông, tôi có cảm tưởng lọt được vào cái thế giới bí ẩn của một người mất bóng.
Trong những ngày giỗ họ, ông xuất hiện bao giờ cũng giữ vừa đủ sự thân mật, nghiêm túc, vẻ nghiêm túc trở thành một giới hạn, một khoảng cách với mọi người. Sau đó ông lại rút về trong cái cõi riêng lặng lẽ của ông.
Tôi không biết chắc ông đã nghĩ về tôi thế nào, nhưng đôi lúc tôi tưởng rằng ông nhìn tôi như đóa hoa trong cái bồn đất trước cửa sổ của ông.
Tôi chắc cả họ nhà tôi, ai cũng nghĩ là ông luyến tiếc cái thời vàng son cũ của ông, luyến tiếc đến đau đớn.
Nhưng chỉ một nụ cười của ông, tôi nhìn thấy trong cái cõi riêng của ông, cùng với một nụ hồng vừa hé bên ngoài cửa sổ, tôi hiểu rằng, đời sống đối với ông nhẹ nhàng, chứ không quá nặng nề như người ta tưởng.
Ông không hỏi gì tôi khác ngoài chuyện học hành, sức khỏe của thấy mẹ tôi, và nhất cái câu “con bao nhiêu tuổi rồi”. Ông đã hỏi tôi câu ấy mỗi năm, và nó cho tôi cảm tưởng, mãi tôi không lớn hơn được cái nụ hoa trong bồn đất của ông, tôi không dầy hơn được mấy cái cánh hồng mỏng manh đó. Và thật lạ lùng, ở gần ông, tôi cảm thấy tôi có một nhan sắc.



























































































