Ðồng cỏ (kỳ 5)


Kể từ ngày ông mất, tôi không còn cảm tưởng này trước mắt nhìn của ai nữa, kể cả thầy tôi.

Trước khi chết, ông dặn lại người nhà, nếu muốn giữ, cứ để cái hộp bài ngà của ông trên bàn thờ, đừng mở ra.

Ðó là dặn cuối cùng của ông, không ai hểu hết ý nghĩa.

Ngày người anh họ của tôi, tức người con trai cả của ông chết trận, không ai thấy ông chảy một giọt nước mắt nào. Ông cũng không nhắc đến cái chết đó một lần nào, không hề thở than với ai một tiếng nào. Khi đám tang đã được chôn cất xong, mọi người về cả rồi, buổi tối, ông ra đứng trước bàn thờ nhìn hình con một lát rồi trở về phòng, bác gái tôi kể lại như vậy. Không ai biết ông nghĩ gì về cái chết của người con trai duy nhất đó của ông.

Ông mất, cái bồn cây bên ngoài cửa sổ bị bỏ quên cũng chết theo, và sau đó, gia đình bác tôi dọn đi nơi khác.

Nhưng những đóa hồng tôi đã nhìn thấy đó, sẽ chẳng bao giờ tàn héo trong tôi. Và, cứ mỗi lần nghe một người nào trong họ nhắc đến ông, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi. Không phải một mình ông đã chết, mà hình như, khi ông chết, cả một quá khứ nữa đã thật sự chết theo ông.

Tôi cũng chẳng còn gặp ai cho mình cái cảm tưởng rợp mát như khi bước vào một ngôi chùa hay ngôi đền cổ, như mỗi lần tôi được gặp ông nữa.

Trận mưa vẫn kéo dài ngoài hiên. Những giọt nước trong vắt ròng ròng không ngớt rớt trước mái hiên, reo thành một tiếng kêu đều đều, buồn nản.

Trời đen nặng, không khí thấm hơi nước trở nên lạnh, thời tiết tưởng chừng như sắp hết mùa thu, sắp sang đông.

Tôi muốn đi ra phố, tới nhà một người bạn nào đó chơi.

Nhưng nghĩ lại mới biết mình không có bạn. Tôi chỉ có những người quen biết, không có bạn.

Không sao. Tôi sẽ đi dạo phố, nhìn lại cái thành phố đã trở nên thân yêu này một lần, trước khi rời khỏi. Chắc chắn ngày tôi trở lại nó sẽ thay đổi.

“Thành phố đi nhanh lắm”, một người bạn đồng sự đã nói với tôi như vậy. Anh là người Hà Nội, nhớ rất nhiều về Hà Nội, từng góc phố, từng mái nhà, từ những sự biến đổi nhỏ nhặt về thời tiết. Thế nhưng anh vẫn luôn luôn tỏ ra rất tiếc vì đã không ghi nhận được nhiều hơn những hình ảnh của Hà Nội khi ra đi. Anh nói “cô không thể tưởng tượng cái thành phố đó mê hoặc người ta thế nào”. Dĩ nhiên tôi không hiểu được sự mê hoặc đó thật. Anh nói “đôi khi nó hành hạ người ta như bệnh tê thấp vậy”.

Tôi thầm nghĩ, nếu quả vậy thì đó là một chứng bệnh khôi hài và khó hiểu.

– Cô ở đâu ngoài đó?

– Ở trong nôi.

Câu nói đùa của tôi làm anh chưng hửng. Anh nhìn tôi, cười. Tôi có cảm tưởng anh đang thử tưởng tượng có thể nhét lại tôi vào trong cái nôi đó chăng?

– Cô có mang theo cái nôi đó vào đây không?

– Không. Tôi để quên ở Hàng Ðường rồi.

– À, con gái chợ Ðồng Xuân, thảo nào.

– Sao, anh?

– Nhanh lắm.

– Không, tôi không nhận tôi là con gái Hà Nội đâu. Tôi Sài Gòn một trăm phần trăm.

– Chín mươi chín thôi. Biết đâu cô chẳng đã được đánh thức vì một tiếng chuông tàu điện.

– Tôi đi xe lam, xe buýt mà.

– Cô sẽ vất vả.

– Vì sao mới được chứ?

– Hàng Ðường là một khu phố buôn bán sầm uất nhất. Hà Nội đấy.

– Chẳng ăn thua gì tới tôi cả.

– “An chung” thì không, chứ “ăn thua” thì có đấy.

– Anh xa Hà Nội lúc mấy tuổi?

– Mười bảy.

– Mười bảy thì con gái bẻ gẫy sừng trâu rồi đấy. Còn anh làm được cái gì rồi?

– Biết phố Hàng Ðường ở chỗ nào. Biết con gái Hàng Ðường chua ngoa thế nào.

– Tôi chưa có răng, chưa ăn một trái sấu nào, làm sao chua ngoa được.

Chúng tôi thường đùa bỡn với nhau về chuyện Hà Nội như vậy.

Tôi biết anh mắc “chứng Hà Nội”, một phần tâm hồn anh do cái thành phố đó tạo nên, anh không thể khác. Nghĩ cho cùng, chẳng được nghe gió heo may, chẳng được hong nắng hanh vàng, chẳng được đi dưới mưa bụi, chẳng được run trong cái lạnh mùa đông, vào lớp học phải hà hơi vào hai bàn tay, xoa lại với nhau, mới cầm bút viết được bài, như vẫn nghe những người Hà Nội kể lại, cũng là một điều đáng tiếc chứ.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT