Lũ kép miền Trung. Bài 3: Phòng tránh thiên tai và ‘nhân tai’

Tô Văn Trường



Để phòng tránh thiên tai và “nhân tai” một cách hữu hiệu, cần phải quyết liệt thực hiện các biện pháp có tính hệ thống và đồng bộ.





Lập quy trình vận hành liên hồ chứa rất phức tạp và còn khá mới mẻ đối với nước ta, cho đến nay chưa có quy trình vận hành mùa kiệt nào được phê duyệt. Lợi ích về năng lượng của thủy điện đã rõ, nhưng bầm dập do phá rừng, xả lũ chưa hợp lý, thay đổi dòng chảy tác động xấu đến môi trường của nhiều đập thủy điện như vết sẹo để lại thì vẫn còn mãi mãi.



Các bất cập khi lập quy trình vận hành hồ chứa



Mặc dù thủy điện chiếm tỷ trọng đáng kể nhưng toàn bộ hệ thống không có dự phòng cho nên bất cứ biến động nhỏ nào như bất lợi về thủy văn, ngưng bảo trì, sửa chữa do sự cố, biến động giá xăng dầu, khan hiếm than, khí thì hệ thống rơi ngay vào tình trạng thiếu điện. Nếu hệ thống có độ dự phòng, thì thủy điện có thể tích nước phòng khi khô hạn. Trong khi đó, cả hệ thống phải ăn đong từng ngày, thì thủy điện, cũng ăn đong từng mét nước. Đấy là chưa kể còn phải đi mua điện tận Trung Quốc, dễ gặp nhiều rủi ro không lường trước. 








Hồ chứa nước ở Bình Định. Hình minh hoạ. Nguồn: baobinhdinh.com.vn



Hầu hết các hồ chứa thủy điện vừa và nhỏ do chủ đầu tư đứng ra thuê tư vấn lập quy trình vận hành hồ chứa phục vụ cho mục đích riêng của mình nên có nhiều bất cập. Quy trình vận hành hồ chứa, được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhiều khi các hồ chứa chỉ làm cho có, báo cáo kỹ thuật để thuyết minh quy trình không đủ để chứng minh các số liệu thể hiện trong quy trình. Các công trình thuỷ lợi chỉ có quy trình vận hành bảo đảm an toàn cho công trình và theo biểu đồ cấp nước. Quy trình vận hành liên hồ mùa lũ mới chỉ có lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, Sông Ba còn nhiều vấn đề cần xem xét lại. 



Nguyên tắc lập quy trình vận hành là dựa trên các tài liệu địa hình, khí tượng thủy văn xác định lưu lượng đến hồ đươc tính toán bằng mô hình thủy văn mưa dòng chảy (mô hình NAM). Tính toán mô hình thủy lực hệ thống sông bằng mô hình thủy lực hệ thống sông (mô hình MIKE 11) . Biên trên của mô hình thủy lực là quá trình lưu lượng theo thời gian Q = f(t). Biên dưới của mô hình thủy lưc là quá trình mực nước theo thời gian Z = f(t) tại các cửa sông đổ ra biển. 



Các vết lũ lịch sử 10/1999 được sử dụng trong quá trình mô phỏng để chọn bộ thông số cho mô hình thủy lực. Tính toán mô phỏng và kiểm định mô hình xem xét giữa sai số thực đo và tính toán với bộ thông số của mô hình.



Trong bài toán vận hành hồ chứa, có 2 khối rất quan trọng đó là khối quy trình vận hành bao gồm xả nước, đón lũ, điều tiết cắt giảm lũ và diễn toán lũ sau khi điều tiết qua các hồ chứa và mạng sông về dưới hạ lưu. 



Một số tồn tại chủ yếu: Quy trình vận hành hồ chứa xả lũ xây dựng trên nền tảng của công tác dự báo, trong khi chất lượng dự báo dòng chảy trên sông chỉ đạt 50-65% do nhiều nguyên nhân kể cả do mật độ phân bố trạm mưa không đều, địa hình bị chia cắt, phân hóa mạnh cho nên quy trình vận hành hồ chứa mùa lũ của lưu vực Vu Gia – Thu Bồn và sông Ba mặc dù mới được phê duyệt, đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết.






Hạ lưu sông Vu Gia-Thu Bồn ngập trong nước lũ. Trong hình: Người dân tranh thủ ra đồng bằng thuyền và “bơi” trên ruộng ngô để vớt củi. Nguồn: baothanhnien.vn



Tiêu chí xây dựng hồ chứa thủy điện ở miền Trung ưu tiên theo thứ tự: An toàn công trình; Phát điện; Cấp nước cho hạ du; Chống lũ. Thực tế quy trình việc cấp nước cho hạ du không rõ ràng. Với nhận thức tầm nhìn mới, phải đảo lại thứ tự ưu tiên: An toàn công trình; Cắt giảm hoặc chống lũ cho hạ du; Đảm bảo nhu cầu dùng nước tối thiểu cho hạ du; Phát điện. Nếu đổi lại thứ tự ưu tiên , phải hy sinh phần phát điện cho mục tiêu chống lũ ở những vùng cần thiết thì phải điều chỉnh lại bài toán quy trình vận hành hồ chứa thủy điện.



Một số kiến nghị 



Cần rà soát, bổ sung lại quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch của các ngành, và địa phương trong điều kiện biến đổi khí hậu. Tính toán lại một cách hệ thống lũ khả năng lớn nhất ở những công trình trọng điểm ảnh hưởng trực tiếp đô thị và dân cư sống ở vùng hạ lưu đập. Tùy điều kiện có thể ứng dụng các phương pháp đơn giản như tính mưa khả năng theo phương pháp thống kê, nếu đủ tài liệu tính theo phương pháp cực đại hóa trận mưa hoặc chuyển vị bão. Kiểm tra lại toàn bộ cơ sở hạ tầng, các tuyến đường giao thông phải có đủ khẩu độ tràn. Các hồ chứa sau khi kiểm tra thấy cần thiết phải mở rộng tràn hoặc xây thêm tràn sự cố hay còn gọi là tràn dự phòng để đảm bảo thoát lũ khi cần thiết. Cần đẩy mạnh việc nghiên cứu cơ sở khoa học để sớm ban hành quy trình vận hành cho tất cả liên hồ chứa còn lại kể cả mùa lũ và mùa cạn. Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi cho các công trình thủy điện nên xem xét quy định “dòng chảy tối thiểu ” cho hợp lý.



Cần nâng cấp các cống tiêu, nạo vét các trục để tăng cường khả năng tiêu thoát. Nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông, xây dựng các tuyến đê mới để chống được mức nước triều với tần suất P=5% có gió bão cấp 9, 10 cộng thêm mức tăng do nước biển dâng.



Đẩy mạnh công nghệ khoa học, nâng cao chất lượng công tác dự báo, để tăng hiệu ích của hồ chứa. Duy trì dung tích phòng lũ theo thời đoạn. Thay đổi quy trình thông báo xả lũ trước 2 giờ thành 6 giờ để người dân kịp thời ứng phó. Khi có thông tin về bão, áp thấp nhiệt đới có khả năng gây mưa thì các hồ phải điều tiết trước để có khả năng đón lũ. 



Ban hành quy định quy trách nhiệm, chế tài xử lý cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư công trình khi công trình gây sự cố. Ban hành quy định quy trách nhiệm, chế tài xử lý tổ chức, cá nhân trình phê duyệt, và phê duyệt quy trình không đảm bảo chất lượng, để xảy ra thiệt hại, sự cố. 



Ban hành quy định phối hợp quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch phòng chống thiên tai. Điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ các hồ thủy điện hiện có trên các lưu vực sông để hài hòa lợi ích, ưu tiên bảo đảm nhiệm vụ cho an toàn công trình, an toàn vùng hạ du và vùng lân cận.



Coi trọng các biện pháp phi công trình như tăng cường độ chính xác cho công tác dự báo mưa lũ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích hợp với biến đổi thời tiết, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ven biển. Để chủ động ứng cứu tại chỗ cần xây dựng các khu nhà phòng tránh kiên cố, nơi cư trú an toàn, dự trữ lương thực, thuốc men, ghe thuyền, phao cứu hộ. Việc đầu tư cho các khu nhà ở kiên cố, đường cứu hộ là biện pháp hữu hiệu, an toàn, rẻ rất nhiều so với sự mất mát, tàn phá của lũ lụt như hàng chục năm qua. 



Kết luận



Đối với nước nghèo như Việt Nam lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bão lũ xảy ra thường xuyên, vấn đề này càng trở nên đặt biệt nghiêm trọng. Đã có nhiều giải pháp và bài học kinh nghiệm phòng tránh thiên tai nhưng xem ra đây vẫn là một thách đố lớn!



Biến đổi khí hậu là vấn đề hệ trọng của sự phát triển, là thách thức lớn nhất đối với mục tiêu phát triển bền vững, hiểm họa tiềm tàng đối với nhân loại. Thích ứng một cách chủ động, có các biện pháp công trình kết hợp với phi công trình là yêu cầu tất yếu đối với các nước, đặc biệt là nước còn nghèo như Việt Nam. Để phòng tránh thiên tai và “nhân tai” một cách hữu hiệu, cần phải quyết liệt thực hiện các biện pháp có tính hệ thống và đồng bộ. 



Từ mảnh sắt con người làm ra cây dao, nhưng tên con dao có khác nhau theo mục đích sử dụng: công cụ lao động với bà nội trợ, vũ khí tự vệ để giết thú dữ và hung khí gây án của kẻ côn đồ. Nếu quy hoạch, tính toán thiết kế, thi công và quản lý vận hành các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi sai thì những công trình này sẽ là những thuỷ tai, “thuỷ hại”. Với tầm nhìn, mục tiêu phát triển bền vũng và yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ đã đến lúc phải có tổ chức mới đủ mạnh cho ngành tài nguyên nước, đảm bảo nguyên lý quản lý tổng hợp theo lưu vực sông để khai thác tiềm năng có ích mà vẫn phòng tránh thiên tai một cách hiệu quả.


video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT