Kỳ 21
Một trận gió thổi qua giậu hoa giấy, vít những cành cao xuống, thả bật trở lại, làm hoa rụng tơi tả.
Trời dường sa thấp xuống tận mấy cái cột ăng-ten và dây điện trên nóc đài.
Trận gió cũng reo thành tiếng trong cái hành lang chỗ chúng tôi đang đứng.
Sơn hỏi tôi:
– Cô vẫn nhất định đi à?
Tôi nói:
– Anh có quyền đổi ý.
Sơn bảo:
– Không sao. Một mai cô sẽ nhớ mà trở về.
Tôi cũng cười bảo:
– Tôi đã nói tôi không đi luôn mà.
Sơn giương chiếc dù của anh lên ngắm nghía.
– Con gái mà.
– Khó tin phải không?
– Những người có kinh nghiệm cho rằng, thà lấy đàn bà chứ đừng tin đàn bà.
– Thật là một một kinh nghiệm đen tối.
Chúng tôi ra đường.
Mưa mù mịt cả khu phố, ngay cả cái ngã tư gần nhất tôi nhìn cũng không rõ. Những hàng cây cao lớn hai bên lề cành nối liền với nhau thành một con đường lợp lá.
Tôi nhớ những buổi sáng mặc áo trắng đi qua những con đường đó, áo đổi thành màu hồ thủy.
Chúng tôi đi qua một giáo đường còn đang xây cất dở. Trí óc tôi hình như đã thừa mứa những hình ảnh, không còn muốn ghi nhận gì nữa.
Nhìn xuống chân mình, hai mũi giầy đã lấm bùn.
Ðó là lúc tôi biết ra, tôi đang muốn tìm kiếm một cái gì khác chứ không phải chỉ những thân cây cao ngất, nứt nẻ, những mái nhà cũ kỹ với những lớp ngói đen. Bầu trời thân thuộc này, có thể, mai đây sẽ làm tôi đau lòng, nhưng bây giờ đã đủ nhàm chán. Không, có lẽ tôi ước muốn một điều gì khác. Không phải tôi không còn muốn nhìn thấy một vật gì trong tất cả những thứ tôi còn nhìn thấy kia nữa. Nhưng nhìn làm chi, ghi nhớ làm chi, chỉ thêm nặng nề lúc ra đi. Tôi muốn làm sao thu nhận hết, không bỏ sót chi cả, nhưng thu gọn vào đâu đây, bằng cách nào đây, đó là cái tôi đang thấy lờ mờ hiện ra trong tiềm thức, giống như những vết bùn trên hai chiếc giầy, mỗi lúc một nhiều hơn, nhưng chỉ là những vết hoen ố, không ra hình thù gì cả.
Dưới chiếc ô, chúng tôi đi với nhau như một cặp tình nhân, và trên một quãng đường dài, chẳng ai nói với ai một câu nào.
Gió vẫn không ngừng reo ào ào trên các tàn cây và làm bạt cả hơi thở.
Ðây là lần đầu tiên tôi thở một hơi thở chung với người khác và tôi biết rõ như vậy. Tới lúc này tôi mới thấy Sài Gòn thiếu nhiều thứ. Thiếu công viên. Thiếu ghế ngồi. Không có chỗ nghỉ chân, dù hai chân mỏi rời. Trời đất trống trơn chứ không che phủ.
Có phải tôi cảm thấy như thế vì tôi chỉ là người tình giả?
Tôi liếc nhìn Sơn, da mặt người đàn ông xanh rờn, hơi nước bám mờ trên cặp kính cận của anh, tóc bị gió thổi tung, khuôn mặt anh như nhìn thấy qua một lớp khói mỏng.
Sơn lấy thuốc lá châm hút. Khó khăn lắm anh mới quẹt được lửa. Chúng tôi phải đứng lại, tôi xây người với anh, cởi bớt một cái cúc áo mưa lấy vạt áo che gió, cái ngọn lửa ấm áp bất ngờ bật lên, khói thuốc Sơn thở ra dường làm cho bầu không khí bao quanh chúng tôi khác hẳn.
Cái ánh lửa trên hộp quẹt kề sát bên ngực tôi, soi rõ màu vàng nhạt của chiếc áo, soi rõ độ cong của ngực tôi dưới lớp vải, và khi cài áo lại, tôi có cảm tưởng đã nhốt trong đó cái chút ánh sáng ấy.
Chúng tôi cùng cười với nhau vì cái công việc nhỏ này.
Tôi cũng có thể tin chắc một điều, trong cái khói thuốc đầu tiên Sơn thở ra đó, không hoàn toàn chỉ có khói thuốc.
Thời khắc trong một giây nghe như hòa với niềm vui vừa nhen lên trong lòng chúng tôi.
Trên một khoảng đường ngắn không có tàn cây, mưa rơi thẳng từ trên cao xuống bắn vỡ trên mặt đường, trông chẳng khác những dấu chân chim nhẩy nhót. Ði gần tới trường tôi, tôi mới nhớ ra, cạnh trường có một cái công viên, mưa thế này chắc chẳng có ma nào và chúng tôi có thể tới đó ngồi chơi.
Tôi bảo Sơn:
– Qua đây, anh.



























































































