Mẹ tôi vào phòng bảo chúng tôi ra ngoài ăn chè.
Bà múc cho tôi và Thảo mỗi đứa một chén chè khoai lang nấu với gừng và bột bán. Một món ăn tầm thường như vậy, nhưng Thảo ăn, khen nức nở:
– Ngon quá!
Mẹ tôi cười vui thích. Nụ cười của bà thốt nhiên làm tôi bối rối. Luôn luôn tôi cảm thấy ở mẹ tôi một vẻ hiền từ, độ lượng, và hình như hai đức tính ấy che mờ hết cả lý trí của bà. Bà sống như vậy có được không, có đúng không? Ðúng hay sai, được hay không được, liệu có gì thay đổi?
Thảo hỏi tôi:
– Chị thấy ngon không?
Tôi giật mình, cười bảo:
– Ngon. Khi nào qua, chị sẽ bày cho các người ở bên ấy cách nấu, ăn cho đỡ nhớ nhà.
Mẹ tôi bảo:
– Cho thêm vani vào cũng được.
Thầy tôi nằm ngả trong chiếc ghế tựa vừa đọc báo vừa nghe máy phát thanh.
Chính vào lúc này, tôi nghe thấy lại bài hát, khi đứng ngoài hành lang chờ thu thanh chương trình cùng với Sơn, một ca sĩ
đang cho ghi âm ở phòng vi âm kế cận:
Từ người xưa ra đi
Khóm cây bao lần thay lá nhớ
Dòng đời trôi quanh co
Có khi xui người lỗi hẹn hò
Mẹ tôi rót cho tôi và Thảo mỗi đứa một tách trà. Mẹ tôi thường chiều tôi như vậy. Nhất là từ hôm biết tôi sắp đi, bà dành
làm hết công việc nhà, tôi không còn gì để làm, ngoài công việc riêng.
Chúng tôi mang trà ra ngoài thềm trước ngồi uống.
Thầy tôi đã cho kê ở đây một chiếc bàn nhỏ và hai chiếc ghế mây. Ðó cũng là chỗ ông ngồi chơi mỗi buổi sáng hay buổi
chiều, uống trà, đọc báo.
Trăng lên đã khá cao. Anh trăng đủ sáng cho thấy một chút màu xanh trên ngọn cây dương liễu.
Vầng trăng như kéo lùi cả khoảng trời, biển, đang còn lởn vởn quanh tôi, nhớ lại một cách rõ ràng hình ảnh con sứa và con
cá chết nằm trên bãi cát nhìn thấy buổi sáng.
Một lát, tôi nghe Thảo hỏi:
– Chị sao thế?
Tôi quay nhìn nó bảo:
– Chị không sao cả.
Chừng như giọng nói của tôi có đủ sự bình tĩnh để con nhỏ không cật vấn tôi nữa.
Thảo nói:
– Chị muốn đi ngủ chưa?
– Chưa. Chưa thấy buồn ngủ.
Thầy tôi từ trong nhà bước ra ngoài thềm đứng ngó lên trời.
Ông nói:
– Trăng sáng quá nhỉ.
Ông nói như một cách tự nhủ vậy thôi, vì tôi không thấy ông quay nhìn chúng tôi. Ông nghểnh cổ, xoay xoay cái đầu,
chừng cho đỡ mỏi, rồi lại quay vào trong nhà.
Thảo hỏi:
– Ðộ này tóc bác bạc nhiều hơn rồi.
Ðúng vậy. Tóc thầy tôi đã trắng hết. Tôi thấy mủi lòng. Mai này tôi đi, chỉ còn lại hai ông bà, nhà sẽ vắng vẻ thế nào?
Chiến tranh cứ kéo dài mãi thế này, liệu anh tôi có sống sót, trở về? Anh có kể cho tôi nghe vài lần thoát chết trong các
cuộc hành quân, nhưng không bao giờ anh tỏ ý ao ước được đổi về một chỗ ít hiểm nguy hơn chẳng hạn.
Không thể cứ mang mạng sống của mình ra đánh cuộc với may rủi mãi. Song, biết làm sao đây? Tôi thương anh và rùng mình khi nghĩ tới thầy mẹ tôi.
Tôi hỏi Thảo:
– Thảo có nhớ cái bài tối qua chị đọc không?
– Nhớ gì?
– Ðoạn nói về trăng ấy.
– Sao?
– Chị nhớ mang máng cái câu “những đêm trăng sáng thế này, có bao kẻ cưỡi được ánh trăng mà trở lại cố hương”, thơ
của Trương Nhược Hư thì phải.
– Em không nhớ.
– Nhà chúng mình ở quê, có một con sông trước vườn.
– Em có nghe mẹ em nói.
– Bãi làng trồng ngô. Mùa hè, ngô mới lớn xanh mướt, những đêm trăng sáng ra bãi chơi sướng lắm.
– Sướng gì?
– Anh Bằng nói, buổi tối đi bắt đom đóm không muốn về ngủ.
Thảo cười bảo:
– Nghĩ, như tụi mình cũng buồn thật.
Tôi không hiểu con nhỏ định nói gì. Tôi lắng nghe nó nói tiếp.
Thảo nói:
– Chẳng biết quê hương ở chỗ nào, có sống ở đâu cũng vậy thôi.
Ðã có những lúc tôi nghĩ như con nhỏ. Vì sao người xưa, dù tha phương cầu thực, dù vinh hiển ở nơi xa, ai cũng muốn trở
về làng để chết. Nhờ vậy, con cháu mới có được mối ràng buộc thực sự với đất đai, với quê hương. Không có quê hương
cũng như không có nguồn gốc, không có chỗ để trở về. Ðã không có chỗ để trở về, người ta sống ở đâu cũng vậy thôi.
Tôi nói:
– Phải có ngày trở lại chứ.



























































































