Ðồng Cỏ (Kỳ 78)


Kỳ 78



Tôi nghe đồng hồ gõ một tiếng ngoài phòng khách. Bốn bề hoàn toàn im vắng, ngay cả tiếng gió cũng bặt luôn.


Thảo xoay mình nằm lại ngay ngắn, mặt hướng lên trần nhà, nói:


– Nhìn trăng một lúc thấy chói mắt.


Tôi bảo với Thảo:


– Chị thương thằng Nhiên, nhưng có nhiều cái nó nói chị không thích.


– Nhưng em tin Nhiên bản chất tốt. Nó lăn ra đời và có lẽ bị lừa lọc và phải đối phó với những hoàn cảnh không ra gì, nên suy nghĩ theo cách của nó.


– Chị cũng nghĩ thế.


– Không phải những điều nó nói làm em sợ. Em sợ những cái lẩn quẩn đằng sau lời nói của nó.


Quả thật chung quanh những điều thằng nhỏ nói ra, tôi cũng luôn cảm thấy lởn vởn một cái gì đó có vẻ u tối, đe dọa, bất an.


Thảo tiếp:


– Nhưng mai mốt nó sẽ giầu.


– Cầu cho nó được như thế.


– Chỉ tội những người như anh Bằng.


Nghe con nhỏ nhắc tới anh tôi, tôi giật mình vì đã có những lúc quên hẳn anh. Tôi vui mừng biết bao khi nghĩ anh vẫn còn. Nhưng một người lính trong cuộc chiến tranh thế này, chuyện gì và lúc nào, chẳng có thể xảy ra? Nghĩ thế tôi lại thấy thót ruột. Anh là người tự trọng, ngay thẳng, nhưng những đức tính ấy chưa bao giờ đem lại cho anh may mắn. Yêu thương gia đình nhưng anh không được ở nhà. Hơn ba mươi tuổi anh chưa có vợ. Vừa ra trường anh nhận được lệnh gọi nhập ngũ ngay chưa kịp làm gì cả. Anh không phàn nàn số phận và hình như càng ngày chiến tranh càng dạy cho anh cách nhả dần những ước vọng như con ốc bị ngâm nước cay nhả bùn ra khỏi miệng. Có lần tôi hỏi anh: “Hết đi lính, anh sẽ làm gì?” Anh nói: “Ðã hết đâu mà tính.” Câu trả lời của anh thật là buồn.


Hoàn cảnh như thế, ai là người sẽ từ chối cơ hội có thể thoát khỏi trước khi đến lượt mình phải cầm súng ra trận?


Người Do Thái còn tái lập quốc được, trở nên hùng mạnh được, không có gì đáng coi là tuyệt vọng cả.


Nhưng điều kiện đầu tiên là phải còn người.


Không có chủ nghĩa nào tốt đẹp khi người ta phải chết.


Không có khả năng nào quý giá hơn việc cứu vớt người.


Không có sự an ủi nào lớn lao hơn sự có mặt, chia sẻ.


Tôi thiết tha mong, sẽ có được những tác phẩm văn chương, thi ca, âm nhạc, những lời kêu gọi thống thiết, để mỗi ngày, mỗi đêm, đem đọc, phát đi, thả tiếng nói bay khắp trời đất, và, ở bất cứ nơi nào chúng ta còn có cơ hội nói với nhau, cũng sẽ có người làm công việc tương tự, để tất cả những người Việt Nam phiêu bạt nơi chân trời góc biển, đều có thể thấy lại mình trên những đường giao thoa của các tiếng kêu gọi đó, trở về.


Trở về trong họa phúc của xứ sở.


Trở về để nhặt xương những người đã chết trong cuộc chiến, nuôi lấy những đứa trẻ mồ côi.


Quốc tịch của chúng ta bị đóng bằng những nhát búa đập trên hàng ngàn chiếc sọ người, vùi trong những hố tập thể.


Những chiếc sọ nứt đôi, bể vụn đó là dấu ấn trên giấy thông hành của những kẻ chạy trốn, lời xá tội cho những kẻ không muốn quay về, tiếng kêu gọi của một thế hệ mồ côi, của những góa phụ kỹ nghệ phôi thai của xứ sở không sản xuất đủ vải để làm khăn tang, của hàng triệu người không nơi nương tựa, chỉ mong được chết thay cho đứa con cuối cùng của gia đình nhưng không biết cầu xin ở đâu sự thế mạng.


Giả thử anh tôi chết – việc ấy có thể trở thành sự thật ngay phút này đây lắm chứ – ba mẹ tôi kể như tuyệt tự, dù tôi có còn.


Mai kia khi đất nước thống nhất, có lẽ cũng chẳng còn ai trở về thềm cũ, dựng lại nhà, đắp lại mồ mả. Họ hàng tôi, những người ở lại ngoài đó, bao nhiêu người còn sống, bao giờ gặp lại nhau? Và dù có gặp lại nhau, cũng có khác chi những người xa lạ? Chúng tôi có biết gì về nhau đâu.


Giá có ai nói được hết những nỗi thống khổ ấy!


Tôi xin lặp lại những lời nguyện cầu đó, như một cách vun quén những đám mây lênh đênh, trôi dạt khắp bốn phương, để mong một ngày, những người đi xa sẽ trở về thắp sáng lại quê hương.


Tôi tin rằng, khi những tiếng nói, không, những tiếng khẩn cầu của mọi người, kết hợp lại trong những kiến trúc, nhà cửa, chữ nghĩa, cái ngày mọi người được tự do thừa hưởng hạnh phúc của riêng mình sẽ tới.


Tất cả những nguyện ước đó, không biết đã bao lần làm tôi bải hoải thần trí, rã rời chân tay, nung nấu tôi giống như một cái lò lửa âm thầm, tắt nguội đi, cháy bùng trở lại cùng với công việc tôi làm, chỉ mình tôi biết. Tình cảnh lắm khi khiến tôi thấy như ngậm trong miệng những miếng than hồng. Sự việc có vẻ gì đó giả trá. Nhưng cái vẻ giả trá đó không làm dịu bớt những nỗi gay gắt trong tôi, trái lại, nó còn làm cho lòng thêm áy náy, không yên. Hình như tôi thiếu cả lòng tin lẫn nghi ngờ.


Buổi sáng chúng tôi dậy muộn.


Tôi đi tới Tòa Ðại Sứ Nhật để lấy những giấy tờ đã được hẹn trả và cũng để hỏi thăm một vài chi tiết về nơi tôi sẽ làm việc…


Thảo nói:


– Em về nhà xem có chuyện gì không.


Tôi nhắc Thảo:


– Hãy thưa trước với ba mẹ em về chuyện chị nói hôm qua.


– Ðể chốc em nói.


– Cứ ở nhà. Xong việc chị sẽ ghé đón.


Chúng tôi cùng ra đường.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT