Tô Văn Trường
Trí thức đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của nền văn minh nhân loại, không những về mặt khoa học kỹ thuật mà còn cả về kinh tế, chính trị và văn hóa. Việc tranh cãi ai là tri thức vào thời điểm này, khi thế giới đang ở thế kỷ 21 rồi, có lẽ chỉ có ở Việt Nam.
Người đời thường nói có những khái niệm định tính, không thể định lượng. Sản phẩm xã hội là sản phẩm nhờ tài năng của trí thức đóng góp vào sự phát triển nhưng không phải của riêng trí thức. Trí thức, có vai trò gói gọn trong tạo ra các sản phẩm tri thức (intellectual property) như các lý thuyết, các bài thơ, áng văn, các tác phẩm hội họa, các sáng chế phát minh…Thay đổi xã hội đặt trong tay các nhà chính trị, các tổ chức xã hội, các Đảng phái. Phải nói thật, các chính trị gia ở nước phát triển này rất giỏi, thường là tầng lớp tinh túy của xã hội, học từ các trường rất ‘xịn’, học giỏi, IQ rất cao. Nhưng chẳng ai định nghĩa họ là trí thức hay không.

Chẳng ai định nghĩa chính trị gia là trí thức, hay không. Tranh minh hoạ. Nguồn: mcswhispers.wordpress.com
Theo tôi hiểu xã hội học phương Tây có một cái hay và cũng là cái dở là không bao giờ chỉ có một định nghĩa. Trong bài nghiên cứu bất kỳ, thường thấy có phần gọi là Literature Review, trong đó liệt kê một loạt các định nghĩa cách hiểu của nhiều học giả khác nhau, tất nhiên có một số guru trong lĩnh vực thì người ta thường trích dẫn và ưu tiên trước. Tự do học thuật cho phép người ta thích theo trường phái nào người ta thích, không giống như toán học 1+1 phải bằng 2. Chính vì vậy, việc cứ phải tìm ra một định nghĩa trí thức là gì quả thật cũng khó, mà nhiều khi đi vào chi tiết cũng không cần thiết.
Như lý thuyết của công ty Apple, cái gì đơn giản nhất nhiều khi là hay nhất. Cứ coi trí thức là những người: sử dụng trí óc vào nghề nghiệp của mình hay công việc bản thân, nhưng sản phẩm tạo ra không thể đánh giá đơn thuần bằng các tiêu chuẩn rõ ràng hoặc sản phẩm rõ ràng. Việc dùng trí óc phải bao gồm suy nghĩ và nhận định. Sản phẩm đầu ra gọi là sản phẩm tri thức (intellectual property). Vậy thì cứ đơn giản hiểu trí thức là người tạo ra ‘intellectual property’. Mà luật sở hữu tri thức đưa ra những gì là sản phẩm tri thức, thì tức khắc những người tạo ra chúng là trí thức.
Ở các nước phát triển, thực tế không hề có chuyện phân chia giai cấp. Họ chỉ phân chia theo nghề nghiệp, chủng tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, không ai chê nghề của ai cả, vì lương được trả cao, một số việc chân tay lương cao hơn làm việc trí óc. Giá trị cuộc sống được đánh giá theo nhiều tiêu chí, trong đó có tiền và địa vị, nhưng cũng có những giá trị khác, như có ích cho cộng đồng, cho tôn giáo.
Gần đây, tôi được biết trên thế giới, người ta phân loại trí thức, xét về quan hệ của trí thức với chế độ chính trị, xã hội và với giới cầm quyền, cả trường hợp trong quốc gia đã hình thành giới trí thức và trường hợp trong quốc gia chưa hình thành giới trí thức:
– Những trí thức có mặt trong những người tạo lập ra chế độ, những trí thức ấy thường giữ vị trí trọng yếu trong giới cầm quyền.
– Những trí thức là bạn và đối tác lâu dài của chế độ và của giới cầm quyền.
– Những trí thức là bạn đường (compagnons de route) được hình thức mời hoặc tự xếp đặt của chế độ và của giới cầm quyền, trong từng chặng đường, thậm chí từng vụ, từng việc.
– Những trí thức dửng dưng, không phản đối cũng không ủng hộ chế độ và giới cầm quyền, chuyên tâm làm công việc theo sở thích của mình, không bao giờ đi bỏ phiếu trong cấc kỳ bầu cử, kể cả tổng tuyển cử, nếu là trí thức có đức độ, tài năng, danh tiếng và uy tín lớn thì luôn luôn được chế độ và giới cầm quyền kính trọng, coi như thượng khách của chế độ, của giới cầm quyền.
– Những trí thức là kẻ hầu hạ, tôi tớ, nịnh bợ, cầu danh cầu lợi trong việc răm rắp tuân theo ý muốn của giới cầm quyền, kể cả khi phải muối mặt làm những việc xấu xa, bẩn thỉu. Có những người cho rằng những kẻ ấy không thể được coi là trí thức, nhưng sự thật thì không dễ loại những kẻ ấy như thế, trong số họ có những kẻ không chỉ nhiều mưu mẹo, nhiều thủ đoạn, mà còn thật sự có tài, rất giỏi giang, uyên bác.
– Những trí thức luôn luôn ở tư thế phê phán, chỉ trích, phản bác chế độ, vạch trần sự hèn kém, đồi bại của kẻ này, người khác trong giới cầm quyền, thậm chí sự hèn kém, đồi bại của toàn bộ giới cầm quyền.
– Những trí thức là kẻ thù từ tâm trí đến xương tủy của chế độ, của giới cầm quyền, không đội trời chung, tìm mọi cách để lật đổ giới cầm quyền, thủ tiêu chế độ chính trị, xã hội hiện hành, tạp lập một chế độ mới, một giới cầm quyền mới
Việc tranh cãi ai là tri thức vào thời điểm này, khi thế giới đang ở thế kỷ 21 rồi, có lẽ chỉ có ở Việt Nam. Vì Việt Nam đang nghèo, cơ chế chính trị còn nhiều bất cập, các giá trị cuộc sống đang đảo lộn. Cái này giống như thời kỳ cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18, các thanh niên và giới học giả tranh cãi nhau ai là trí thức, và chỉ có trí thức mới đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Pháp. Hay như thời kỳ đầu thế kỷ 20 tại VN dưới chế độ thực dân Pháp cũng vậy.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cho đến nay vẫn chưa định hình. Hiền tài đương nhiên là trí thức. Người xưa, quan niệm trí thức là người được học rộng, biết nhiều, có trình độ đào tạo cao hơn mặt bằng chung của xã hội. Theo từ điển :”Trí thức là người sử dụng trí tuệ làm việc, nghiên cứu, phản ánh, dự đoán hoặc để hỏi và trả lời các các câu hỏi liên quan hàng loạt những ý tưởng khác nhau”. C.Mac định nghĩa :”Trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì hiện hữu. Không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào.”
Ngày nay, theo quan điểm chính thống, trí thức là những người lao động trí óc. Thái độ của trí thức là thước đo sự tiến triển của chế độ. Gs Cao Huy Thuần đại học Picardie (Pháp) định nghĩa :“Ai đánh thức không cho xã hội ngủ, người ấy là trí thức bất kỳ họ là ai”. J.P.Sartre, triết gia lừng danh người Pháp đã nói “Nếu ai đó chế tạo ra quả bom nguyên tử, thì người đó là bác học, chỉ khi nào ông bác học ý thức được cái khí giới giết ngươi ghê gớm ấy, đứng lên hô hào chống bom nguyên tử, lúc đó ông ta là trí thức.”
Đất nước Việt Nam, từ xưa đến nay lúc nào cũng nhiều người hiền tài, tuy nhiên từng thời kỳ, từng lúc mà nguồn hiền tài đó được khơi ra như thế nào. Có nghĩa là khi được quan tâm, trọng dụng thì hiền tài sẽ có, tri thức sẽ nhiều. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng suốt hơn người thường.
Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm và xây dựng đất nước phát triển rất hiệu quả nhờ tầng lớp trí thức lãnh đạo biết khơi dạy, hòa đồng cùng với nhân dân xả thân vì nghiệp lớn. Bài “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, bài thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt xác định chủ quyền của đất nước “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” hay bản hùng văn lịch sử của Nguyễn Trãi:”Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các tiền nhân biết coi trọng và sử dụng trí thức là các nhà quân sự, nhà tư tưởng chiến lược của thời đại.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đang viết bài hịch lưu truyền muôn đời: Hịch Tướng Sĩ. Phía sau là bối cảnh trận đánh oanh liệt tại sông Bạch Đằng. Y giáp phỏng theo tượng ông tại Sài gòn và tranh vẽ trên tiền của Việt Nam Cộng Hòa. Nguồn: nguyenkhapnoi.com
Mặc dù chế độ phong kiến chỉ cho phép sĩ phu tiến thân trong chốn quan trường nhưng các bậc trí thức hiền tài khi thấy ý kiến của mình không được Vua tôn trọng, đã sẵn sàng rũ áo, từ quan về ở ẩn. Ông Chu Văn An nổi tiếng là bậc Thánh hiền, ngay khi đỗ Thái học sinh, ông từ chối làm quan, không màng danh lợi về quê mở trường dạy học có nhiều môn sinh. Vua Trần Minh Tông biết tài của Chu Văn An mời ông vào triều dạy học cho thái tử và các con đại thần. Đến đời vua Trần Dụ Tông thấy nhiều đại thần xung quanh Vua là nịnh thần, tham quan, nhà giáo Chu Văn An đã dũng cảm dâng sớ, hạch tội và xin chém 7 kẻ tội thần. Vua không nghe, ông liền treo ấn, từ quan về ở ẩn. “Thất trảm sớ” nổi tiếng của nhà giáo Chu Văn An vẫn còn được truyền tụng mãi đến muôn đời sau. Thời Vua Quang Trung, biết rõ Ngô Thời Nhậm có tật nhưng vẫn sử dụng vì biết ông ta có tài. Tiếc thay, bậc minh quân tài giỏi như vua Quang Trung lại đoản thọ nên nghiệp lớn vẫn còn dở dang.
Năm 1930, thời kỳ đầu của cách mạng, tư tưởng của một số người có thẩm quyền xuất phát từ nền kinh tế “tiểu nông” lạc hậu, nên đã ấu trĩ đề ra chính sách sai lầm coi trí thức như kẻ thù cần đả phá với khẩu hiệu “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Thời thế tạo ra anh hùng.
Thời đại ngày nay, do nền kinh tế thị trường, những trí thức có năng lực thực sự và tự trọng cao, không còn chí thú theo đuổi, cố bám vào cái ghế quyền lực để tiến thân. Có những lúc các cụ ta phải kêu lên:
“Nhân tài như lá mùa thu
Tuấn kiệt như sao buổi sớm”
Đó là lúc báo hiệu đất nước sẽ suy vong, lòng người ly tán. Nếu dùng hình ảnh về “hiền tài”, ta thấy tre rừng thì rất nhiều lại mọc cheo leo trên sườn núi, oái oăm thay cây tốt nhất, to và thẳng nhất thường mọc ở giữa bụi rất khó tìm, khó chặt và khó mang về nhà hơn là các cây tre bao quanh cong queo, thậm chí lại có mắt sâu. Bởi vậy, nhiều người cho rằng, nếu Đảng và Nhà nước không có cơ chế tuyển chọn công khai, minh bạch (trí thức thích thi thố tài năng) và chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc thích hợp thì rất khó tuyển chọn được những người hiền tài cho đất nước. Người được tuyển chọn trong vòng luẩn quẩn “chuyên quyền” đó, dễ dẫn đến một số người lọt vào “mắt xanh” của Đảng nhưng lại không đủ tâm và tầm để sử dụng nguồn nhân lực có trí tuệ, người giúp việc tài giỏi hơn mình.
Cổ nhân đã dạy: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” có nghĩa là ngay cả người tầm thường cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải có trách nhiệm hơn thế! Ngày nay, tiếp tục truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành hiền tài có vai trò và trách nhiệm cống hiến tài năng vào tiến trình phát triển đất nước. Người khôn học kinh nghiệm lịch sử, kẻ dại học kinh nghiệm bản thân. Thời xưa, có những nhà vua anh minh đề ra chức “Gián quan” được miễn tội chém đầu để can ngăn những việc không đúng, không nên làm của Vua.
Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, sáng tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý phải biết làm phản biện chính là hình ảnh của “gián quan” thời xưa nhưng được nâng lên tầm cao mới theo tư duy của xã hội dân chủ và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức.
Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng, quy tụ, sử dụng đội ngũ trí thức, nhất là các bậc trí thức lão thành, tâm huyết có kinh nghiệm, bản lãnh hiến kế cho tiến trình xây dựng đất nước. Các bậc trí thức hàng đầu của đất nước, theo quy luật của tạo hóa sẽ có lúc phải ngừng nghỉ, đó là khoảng trống mênh mông để lại.
Nhìn xa, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới, sáng tạo, phụng sự đất nước khi còn sung sức. Khơi nguồn hiền tài từ lớp trẻ, đặc biệt là tuổi trẻ trí thức là con đường lâu dài và đúng đắn nhất. Cần tạo môi trường cho trí thức làm việc, phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng công sức, thành quả họ mang lại. Tuy nhiên, vẫn có luồng ý kiến, trí thức chân chính không cần đãi ngộ, họ sẽ tự biết tìm cách để sáng tạo và tự sử dụng mình vào những công việc hữu ích cho tổ quốc. Có thực tế, ‘luật bất thành văn’, trong hệ thống xét duyệt, bổ nhiệm cán bộ cao cấp của Nhà nước không có chỗ dung thân cho những trí thức tài giỏi ngoài Đảng. Có nghịch lý, khá nhiều trí thức tiêu biểu cũng lại không thiết tha vào Đảng để làm con đường tiến thân!
Ngày nay, có thể hiểu hiền tài không chỉ là trí thức, mà là tất cả những ai có năng lực, có tâm huyết và khát vọng cống hiến cho đất nước, cho dân tộc.
Trích từ đề tài nghiên cứu: “Quan điểm tổ chức hoạt động và các giải pháp quản lý các diễn đàn trí trức”. Tựa nhỏ do Người Việt Online đặt.






























































































































