Nguyễn Xuân Hoàng
Nhiều đêm tôi nghe có tiếng gõ cửa nhưng tôi không buồn ngồi dậy. Kệ nó. Chẳng phải là công an đâu. Nếu công an nó đâu để mình yên. Có lẽ một ông quen nào đó. Chờ lâu không thấy trả lời rồi họ cũng đi thôi. Thế nhưng tối nay, tiếng gõ cửa khá lâu, không có gì khẩn cấp, nhưng chắc chắn người gõ khá là kiên nhẫn. Mấy lần tôi dợm mình thức dậy. Nhưng rồi tôi lại nằm xuống. Tiếng gõ không tắt.
“Ông Thăng! Ông Thăng! Tôi là Phước đây!”
Phước? Tôi đâu có quen ai tên là Phước. Kệ nó. Phước, Phúc, Phét gì cũng kệ. Ngủ lại đi.
Tuy vậy tiếng gõ vẫn đều đặn gấp mà không mạnh. Sau cùng không chịu nổi, tôi bước ra mở cửa.
“Ông Thăng! Ông còn nhớ tôi không? Tôi là Ngô Văn Phước đây!”
Ánh sáng của ngọn điện đường ở đầu hẻm không chiếu rõ khuôn mặt người đối diện. Tôi hơi ngập ngừng.
“Người thí sinh lựu đạn đây.”
“Ồ, nhớ rồi!”
Tôi đưa tay bắt tay Phước.
“Vào đi, vào nhà đi!”
Tôi mở rộng cửa.
Phước bước vào. So với lần gặp Phước ở hàng bánh mì đêm trên đường Lê Lợi thì Phước gầy nhiều lắm. Tuy vậy cái khuôn mặt chữ điền cằm bạnh, hai con mắt to, chân mày rậm, gò má nhô xương và chiếc mũi gãy như vẫn còn nguyên.
“Tôi vừa ở tù ra, tôi có chuyến đi gấp. Tôi muốn mượn anh chị một lượng vàng.”
“Ngồi xuống đây đi.” Tôi kéo ghế ở căn phòng vừa dùng làm buồng ăn buồng ngủ.
Phước ngồi tự nhiên. Tôi thấy anh đưa tay sờ túi áo. Sau đó anh hỏi:
“Anh Thăng có thuốc lá không?”
Tôi lấy thuốc cho Phước.
Hồi chiều Tâm vừa cho tôi một bao ba số năm. Phước gõ gõ giọng giọng điếu thuốc lên hộp quẹt, bật lửa, châm, thở khói.
“Chà. Sướng gì đâu!” Phước vừa nói vừa ngó những dòng chữ trên điếu thuốc. “Anh có phải đi tù không anh Thăng?”
Tôi kéo ghế ngồi đối diện với Phước. Tôi cũng châm một điếu thuốc.
“Cũng có chút chút. Mỗi nơi vài ba tháng. Tôi vượt biên.”
“Anh ở tù nào?”
“Rạch Giá. Nha Trang. Mỹ Tho…”
“Tôi ở ngoài Bắc.”
Bỗng nhiên Phước rùng mình. Tôi thấy hai tay anh vòng trước ngực.
“Nhà gì lạnh quá chừng!” Phước vừa hút thuốc, nhả khói vừa ngó quanh nhà.
“Mà chị đâu anh?”
“Nhà tôi và con tôi đã vượt biên!” Tôi nghe chính giọng nói của tôi như thể là giọng của một người nào khác.
“Vượt biên? Còn anh tại sao anh không đi?”
“Tôi không đi vì lúc đó tôi còn ở tù dưới Rạch Giá.”
Phước đứng dậy, dập điếu thuốc hút dở xuống cái dĩa làm gạt tàn. Anh cho hai tay vào túi quần, đi qua đi lại. Căn phòng chật, chỉ bước ba bước, Phước đã đụng vách. Dừng lại trước mặt tôi, anh hỏi:
“Bây giờ anh Thăng làm gì?”
“Tôi chưa làm gì. Tôi không biết làm gì?”
“Vậy anh sống cách sao?”
Tôi sống cách sao? Tôi đi qua đi lại. Tôi đi rong trên phố. Tôi đứng ở chợ trời. Tôi uống cà phê của bạn bè. Tôi ăn cơm chực của bác Ngô. Tôi nhớ Quỳnh, nhớ con. Tôi như một thứ cây, mà nhựa sống đã bị rút hết, đứng khô héo dưới một thời tiết hạn hán. Tôi mong tin Quỳnh biết là chừng nào. Hai mẹ con đã đến đâu? Palawan? Poulo Bidong? Sungei Beisi? Songkla? Hay… Tôi không bao giờ dám nghĩ đến điều đó. “Hay”… không nên có cái chữ “Hay” đó. Mà tôi cũng chẳng biết mình có sống không, làm sao tôi biết mình có sống không, làm sao tôi biết tôi sống cách nào. Nếu sống chỉ giản dị là ăn, là thở, là đi đứng, là cười nói… có lẽ tôi đang sống.
Ðột nhiên, Phước dừng lại, ngồi xuống ghế:
“Tôi hiểu rồi! Anh Thăng. Thật tình là tôi đến gặp để mượn anh chị một lượng vàng. Tuần tới tôi có chuyến đi. Nhưng mà… tôi hiểu rồi! Anh ăn gì chưa?”
“Ăn rồi! Tôi đã ăn từ hồi chiều.”



















































































