Nhìn lại chiến tranh Việt Nam qua một cuộc hội thảo



Tâm Việt


Bởi ngày 5 tháng 8 cách đây đúng nửa thế kỷ (1964), Quốc Hội Mỹ đã thông qua nghị quyết về Vịnh Bắc Việt (The Gulf of Tonkin Resolution) với tỷ lệ áp đảo 99.6 phần trăm (chỉ có hai phiếu không thuận trên 500 phiếu), cho phép Tổng Thống Lyndon B. Johnson đưa quân ồ ạt vào miền Nam VN (tháng 3, 1965) nên cũng đúng ngày 5 tháng 8 năm nay, một cuộc hội thảo đã được tổ chức tại Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Gia (National Press Club) ở ngay thủ đô Washington của Hoa Kỳ nhằm duyệt lại “Chiến tranh VN,” cuộc chiến lâu nhất mà Mỹ đã tham gia trong lịch sử.









Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích (trái) phát biểu tại hội thảo. (Hình: Tâm Việt cung cấp)


Tổ chức bởi Vietnam Veterans for Factual History (Cựu chiến binh tham chiến ở VN đi tìm sự thật lịch sử qua các dữ kiện), buổi hội thảo đã thu hút được sự chú ý của không ít cơ quan truyền thông cả Mỹ lẫn Việt, có lẽ vì kinh nghiệm của Mỹ trong chiến tranh VN vẫn còn những bài học cho chính trị, ngoại giao của Hoa Kỳ cho đến tận ngày hôm nay.


Nói như một diễn giả trong cuộc hội thảo, ông Nguyễn Ngọc Bích, chiến tranh VN không hẳn là đã kết thúc mà thực sự là đã bị bỏ dở dang (“left unfinished”). Sau khi Mỹ rút ra, Hà nội đã phải thọ địch hai đầu: Pol Pot ở phía Tây Nam và Ðặng Tiểu Bình ở phía Bắc. Cũng do vậy nên khi Trung Cộng xâm lấn ở Biển Ðông hay đưa giàn khoan 981 vào vùng biển VN thì Mỹ cũng phải trở lại, như Tổng Thống Obama đã “quay gót” về Á đông.



Nguồn gốc của “chiến tranh VN”


Ở Mỹ người ta gọi “chiến tranh VN” là giai đoạn có người Mỹ tham gia trực tiếp vào cuộc chiến. Nhưng đích thực một cách gọi chính xác hơn phải là “Chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai” sau cuộc “Chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất” trong đó Việt Minh lãnh đạo một cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 9 năm. Tại sao nên gọi hai cuộc chiến đó là hai cuộc “chiến tranh Ðông Dương”? Bởi trước hết vì cả hai cuộc chiến diễn ra trên toàn cõi Ðông Dương chứ không thuần túy chỉ giới hạn vào VN. Có hiểu như thế ta mới hiểu được một hiện tượng như đường mòn Hồ Chí Minh mà 5/6 nằm trên lãnh thổ Lào và Miên. Có hiểu như thế, ta mới hiểu được cuộc chiến tiếp diễn giữa hai đảng CS Miên (của Pol Pot) và Việt, mà có người gọi là “Chiến tranh Ðông Dương lần thứ ba,” kéo dài thêm 14 năm sau 1975 (tới tận 1989) với những kết quả tàn khốc.


Diễn giả đầu tiên tại cuộc hội thảo, Giáo Sư Bob Turner thuộc Viện Ðại Học Virginia, đã bằng vào nhiều tài liệu mà ông có đem theo để chứng minh rằng những lập luận của những người những năm xưa chống chiến tranh VN, như đương kim Tổng Trưởng Ngoại Giao John Kerry hay nữ tài tử Jane Fonda, là hoàn toàn vô căn cứ. Bây giờ xem lại, ta không thể tưởng tượng được là nhiều người phản chiến lúc bấy giờ đã dựng đứng câu chuyện như thế nào. Tỷ như ông John Kerry hồi đó ra trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ và tuyên bố là từ “60 đến 80 phần trăm” các quân nhân Hoa Kỳ ở VN “đều say túy lúy 24 giờ một ngày” và họ hành động “làm ta nhớ đến Thành Cát Tư Hãn” của Mông Cổ ngày xưa. Ba mươi năm sau, trả lời trong chương trình Meet the Press trên truyền hình, ông đã phải công nhận những lời tố cáo “diệt chủng” và trọng tội do lính Mỹ đều phạm phải “là những lời lẽ của một thanh niên giận dữ” để kết luận là “binh lính của ta [ở Việt Nam], nói chung, đã hành xử cao cả như trong bất cứ trận chiến nào” (“our soldiers served as nobly, in the whole, as in any war…”).


Còn Jane Fonda thì sang tận Hà Nội và lên đài phát thanh của Hà Nội để kêu gọi các binh sĩ Mỹ hãy cưỡng lại mệnh lệnh vì những đạn dược của Mỹ gồm đầy hóa chất độc hại bị [thế giới] coi là “bất hợp pháp” và có thể dẫn họ đến chỗ sẽ phải ra trước tòa án quốc tế về trọng tội trong chiến tranh. Bởi thế nên ngày nay cô ta mới bị gọi là cô “Jane phản thùng.”


Theo ông Turner, những người phản chiến không nhìn ra là khi Hoa Kỳ ồ ạt đưa quân vào VN là lúc Lâm Bưu ở Trung quốc đang kêu gọi các quốc gia nhỏ trên thế giới hãy liên kết lại với nhau để thành như “nông thôn bao vây thành thị” và cũng là lúc Cộng sản sắp lật đổ chính quyền Sukarno ở Nam dương. Nếu chuyện này xảy ra thì tình hình Ðông Nam Á đã đổi thay toàn diện. Chính sự tham chiến của Mỹ ở VN đã mua được thời gian để cho các đồng minh Mỹ trong vùng, như Thái Lan và Nam Dương sau năm 1965, đã trở thành những quốc gia vững mạnh mà không bị đổ như những quân cờ Domino (điều lo ngại của Tổng Thống Eisenhower).


Trái lại, vì Mỹ bỏ cuộc ở Việt Nam mà một thời gian Cộng sản tung hoành ở khắp nơi, từ Âu sang Á, sang cả Phi Châu (với quân Cuba sang đánh nhau ở Angola) và vườn sau của Mỹ ở Trung Nam Mỹ cũng như Trung Ðông (Afghanistan, Iran). Nhưng kinh khủng nhất là hậu quả kinh khiếp ở ngay Việt nam và Campuchia: gần 1/3 dân số (khoảng 2 triệu người) bị giết ở xứ Chùa Tháp còn ở VN thì hàng trăm nghìn người bị đưa đi học tập cải tạo, hàng triệu người bị đưa đi kinh tế mới, cả triệu người bỏ nước ra đi (ít nhất 400,000 bị chết dưới đáy biển), cả nước đi vào những đêm tăm tối của thời “bao cấp.”



Chiến tranh VN có “bất khả thắng” không?


Trong những lời chỉ trích sự tham chiến của Mỹ vào chiến tranh VN thì có ba lập luận được đưa ra: cuộc chiến đó “bất hợp pháp, vô luân, và bất khả thắng” (“illegal, immoral, and unwinnable”). Nếu GS Bob Turner đã trả lời được một cách hùng hồn lời tố cáo là cuộc chiến đó “bất hợp pháp” thì cựu Ðại Tá Andrew Finlayson đã dùng ngay những tiết lộ sau này của chính phía CS để chứng minh là cuộc chiến “có thể thắng được” chứ không phải là “bất khả thắng” như ký giả nổi tiếng Walter Cronkite đã tuyên bố ở Huế khi ông sang VN sau trận Tết Mậu Thân. Tỷ dụ, ông dẫn lời cựu Ðại Tá Bùi Tín tuyên bố với tờ Wall Street Journal là Bắc Việt rất lo ngại chuyện Mỹ đánh sang đường mòn Hồ Chí Minh ở Lào vì chuyện đó sẽ chặn đứng được con đường chủ yếu tiếp liệu cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.


Một thí dụ khác do ông Bích đưa ra là lời thú của một ông tướng Bắc Việt chuyên lo về tiếp tế trên đường mòn Hồ Chí Minh. Vẫn theo ông Bích, vị tướng này đã đòi ông Bùi Tín phải tuyệt đối giữ bí mật này cho đến ngày xuống mồ: theo ông tướng BV, Mỹ chỉ cần đem một sư đoàn đánh lên Vinh là tất yếu toàn bộ Quân đội Nhân dân miền Bắc sẽ phải rút về để bảo vệ miền Bắc, và như vậy thì cuộc chiến của người CS sẽ chết khô, chết héo ở Miền Nam vì thiếu yểm trợ từ “hậu phương” miền Bắc.


Ông Bích còn nói: Mỹ sợ Trung Cộng tham chiến nhưng mặc dù Mỹ không đánh sang đường mòn HCM ở Lào cũng như không đưa quân lên vùng lòng chảo của miền Bắc, Trung Cộng cũng vẫn đã từng đưa 320 nghìn quân sang VN tham chiến để cho phép các đơn vị chính quy của Hà nội có thể rời miền Bắc dồn hết sức lực vào Nam như trong chiến dịch Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh (khi Hà Nội chỉ giữ có một sư đoàn ở lại miền Bắc). Thành thử Mỹ đã bỏ lỡ hơn một cơ hội đánh bại Miền Bắc trong mưu đồ xâm chiếm miền Nam.



Còn vấn đề “ai thắng ai”


Nói đến vấn đề “vô luân” (“immoral”) thì theo ông Nguyễn Ngọc Bích, một trong ba diễn giả chính, ta cần phải nói rõ thế nào là “vô luân” hay “vô đạo đức” trong chiến tranh bởi ít khi mà lại có một cuộc chiến “có đạo đức.” Nói cách khác, trong tiếng Việt người ta thường nói đến “chính nghĩa” và do đó, theo ông Bích, vấn đề là trong chiến tranh Việt Nam bên nào có chính nghĩa và bên nào không? Về phương diện này thì ông Bích đã dẫn ngay nữ văn sĩ Dương Thu Hương khi bà nói trong một cuộc phỏng vấn với ký giả Ðinh Quang Anh Thái: “Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc VN phạm phải.”


Rồi ông nhắc đến những chứng nhân khác như ông Bùi Tín, cựu đại tá quân đội nhân dân và phó tổng biên tập của tờ Nhân Dân Chủ Nhật. Hay ông Võ Văn Kiệt cũng phải công nhận: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn.” Chứng tỏ là ông Kiệt công nhận là có hai phe tranh chấp về chính nghĩa trong cuộc chiến ở VN.


Ðể cuối cùng có những người như ông Nguyễn Hộ thẳng thắn thú nhận lả phe CS sai hoàn toàn hay Nguyễn Văn Trấn, “con hùm xám Chợ Ðệm,” tố cáo là không có cái gì là “tư tưởng Hồ Chí Minh” cả, như chính ông Hồ đã xác nhận ở Ðại hội Ðảng CSVN lần thứ hai vào năm 1951.


Ðể chứng minh sự dã man vô nhân đạo của người CSVN, ông Bích đã đưa ra trường hợp Cải Cách Ruộng Ðất. Trong khi CCRÐ chỉ xảy ra trong có ba năm (từ 1953 đến 1956, tức là trong đó có hai năm hòa bình) và trong một nửa nước, số nạn nhân của nó đã lên tới 172,008 người trong số đó có 123,266 người bị quy oan là “địa chủ” và “phú nông.” Nghĩa là cứ 4 người thì đã tới 3 người bị giết oan. Và đây cũng là trường hợp người Việt giết người Việt, hàng xóm giết láng giềng dù như những người này không có một tấc sắt trong tay. So với số người mất mạng trong chín năm chiến tranh Việt Pháp, chúng ta mới thấy hết sự kinh hồn của chiến dịch CCRÐ ở miền Bắc: trong 9 năm này, phe Quân đội Pháp, có súng trong tay nghĩa là có thể bắn trả, cũng chỉ mất có 75 nghìn người. Tóm lại, vụ CCRÐ trong 3 năm hòa bình người Việt giết người Việt (không khác gì Pol Pot giết đồng bào của ông ta ở Miên) khoảng 2 lần rưỡi số địch quân chết trong 9 năm chiến tranh.


Ông Bích còn làm cho nhiều người trong cử tọa thích thú khi để chứng minh “ai thắng ai,” ông đã đọc những câu vè bất hủ trong kho tàng văn học dân gian thời nhà Cộng. Cuối cùng, ông đã lấy ngay thí dụ của cuộc hải chiến Hoàng sa anh dũng của Quân Lực VNCH với 74 chiến sĩ hy sinh để bảo vệ biển đảo VN. Theo ông Bích, sự kiện đồng bào ở Hà Nội ngay từ năm 2011 đã đem hình Trung Tá Hải Quân Ngụy Văn Thà và tên tuổi của 73 chiến sĩ hy sinh trong trận Hoàng Sa đi giữa đường Hà Nội là một minh chứng rõ ràng nhất người dân trong nước giờ đây công nhận chính nghĩa của Miền Nam, tức VNCH.


Cũng nhân cơ hội này, ông Bích đã phổ biến, ngoài bài nói chuyện 8 trang của ông, mấy tài liệu của Ủy Ban Lâm Thời VNCH như bản tuyên ngôn ngày 14 tháng 5, 2014, chống việc Trung Cộng đưa giàn khoan 981 vào vùng biển VN hay bài “Phản biện lập trường của TC phổ biến tại LHQ về vụ giàn khoan 981,” đưa ra từ ngày 18 tháng 6, 2014. Những tài liệu này đã được đón nhận một cách rất sốt sắng bởi nhiều người trong cử tọa lên xin ba tài liệu ông Bích mang đến.


Sau buổi nói chuyện và những trao đổi khá hào hứng với cử tọa, nhiều nhà báo đã lên liên lạc với ông Bích để xin phỏng vấn (như ký giả Lâm Kim Thu của VietTV, hay ký giả người Nhật Noriyuki Yamaguchi của TBS News tức Tokyo Broadcasting System International) hoặc trao đổi. Ký giả kỳ cựu Sol Sanders và ông Roger Canfield, tác giả của cuốn sách trên 2000 trang về phong trào phản chiến Mỹ mà ông gọi là “Ameri Cong,” đã lên ủng hộ lập trường của ông Bích đưa ra. Và hãng C SPAN cũng đã thu buổi hội thảo từ đầu chí cuối và họ hẹn sẽ chiếu lên toàn bộ cho bà con xem trong nay mai.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT