Nguyễn Xuân Thu
TTHL/VT lúc đầu có ba cơ sở: Cơ sở đầu não đặt tại trại Chí Linh, trại Phù Ðổng và cơ sở Lam Sơn cách trại Chí Linh khoảng 6 cây số về hướng Sài Gòn. Không giống như các trung tâm huấn luyện tại các trường học (nay gọi là trung tâm đào tạo), TTHL/VT được tổ chức và hoạt động như một đơn vị quân đội, có kỷ luật chặt chẽ, nhân viên và khóa sinh ra vào trại phải có giấy phép và được kiểm tra nghiêm ngặt bởi các đội bảo vệ canh gác có súng.
TTHL/VT từ cuối năm 1965 do Trung Tá Nguyễn Bé làm chỉ huy trưởng (giám đốc). Trung tâm có bốn khối: Khối Nghiên Cứu và Phát Triển, Khối Huấn Luyện, Khối Hành Chính và Khối Tổng Ðoàn Khóa Sinh.
Ngoài ra, TTHL/VT còn có ban cố vấn gồm trên 40 người Mỹ đảm trách nhiều công việc khác nhau. Ban cố vấn có nhiệm vụ yểm trợ đắc lực về mặt tài chính và hậu cần cho các hoạt động đào tạo và huấn luyện của trung tâm.
Trong thời gian đầu, lúc mới đến trung tâm, tôi được phân công đến tìm hiểu công việc tại các khối, phòng, ban và các Tổng đoàn khóa sinh của trung tâm. Sau khoảng trên hai tháng, tôi được bổ nhiệm chức vụ phụ tá giám đốc đặc trách Khối Nghiên Cứu Phát Triển (NCPT). Chỉ huy trưởng của TTHL/VU là Trung Tá Nguyễn Bé. Lúc ông làm phó tỉnh trưởng Nội An tại tỉnh Bình Ðịnh, tôi có giúp viết nhiều bài báo đăng trên tờ nội san của tỉnh đoàn cán bộ XDNT Bình Ðịnh. Những bài viết này sau được tập hợp lại, hiệu đính và in thành quyển sách “Tìm hiểu chung thủy” ký tên Tường Vân Nguyễn Bé, để phát cho cán bộ và quan khách mỗi khi đến thăm trung tâm. Có nửa triệu bản được phát hành trong lần in đầu tiên. Khi Nguyễn Bé mới vào làm chỉ huy trưởng, anh có nhờ tôi viết một bài kêu gọi thanh niên Việt Nam phải ý thức về sứ mạng lịch sử của mình dù ở vào hoàn cảnh nào, và tôi không ngờ được rằng chính bài này đã được sử dụng để đọc trong Ðêm suy tư trong mỗi dịp lễ mãn khóa với sự tham dự của hàng ngàn khóa sinh. Giữa đêm tối, khi máy phóng thanh phát ra bài này, nhiều người không cầm được nước mắt.
Khối NCPT do tôi trực tiếp điều hành có một số phòng và ban:
Phòng nghiên cứu phụ trách nghiên cứu và soạn thảo chương trình huấn luyện chuyên môn cho các công tác phát triển nông thôn, từ bài học về các mục tiêu của công tác XDNT, nhiệm vụ của cán bộ XDNT, công tác hướng dẫn bầu cử xã ấp, chống nạn mù chữ, vận động nhân dân tham gia vào các chương trình xây dựng cầu cống, đường sá, bệnh xá, trường học, đình làng, đến hướng dẫn sinh hoạt thiếu nhi, cách thức sinh hoạt cộng đồng… Cụ thể hóa các bài học là các nhiệm vụ mỗi loại CB/XDNT phải làm để đạt được mục tiêu đã đề ra và có phần hướng dẫn đánh giá mỗi nhiệm vụ. Sau khi soạn thảo xong và được đem ra dạy thử, các tài liệu được điều chỉnh lại trước khi chuyển sang ban cố vấn tại trung tâm để được dịch ra tiếng Anh và sau đó trình cho Tổng Bộ Xây Dựng xét duyệt, ban hành.
Phòng chính trị phụ trách soạn thảo các tài liệu liên quan đến môn chính trị, giúp học viên biết rõ lý do tại sao người CB/XDNT phải xây dựng nông thôn. Các nhiệm vụ chính là phải xây dựng cho được hai cộng đồng ở tại mỗi xã ấp: Cộng đồng an ninh để bảo vệ cuộc sống thanh bình của người dân, không để cho bất cứ ai áp bức, nhũng nhiễu dù kẻ đó là người phía quốc gia hay là cán bộ Cộng Sản nằm vùng. Cộng đồng phồn thịnh là nơi mọi người dân được tự do bầu cử, đi lại, làm việc, học hành, có mọi tiện nghi tối thiểu về nhà ở, đường sá, cầu cống, trường học, trạm y tế, nhà hộ sinh, đình làng, chùa, miếu, nhà thờ.
Phòng báo chí phụ trách bài vở cho tờ báo Nước Ta, tờ nội san của trung tâm phát cho cán bộ và khóa sinh đang học tập và làm việc tại trung tâm, xuất bản hàng tháng và tờ báo Xây Dựng Nông Thôn, của tổng Bộ Xây Dựng xuất bản hai tháng một lần, chủ yếu phân phối cho cán bộ XDNT trong toàn miền Nam.
Phòng phát thanh và truyền hình phụ trách hai chương trình phát thanh mỗi tuần (Ðài Phát Thanh Sài Gòn một giờ mỗi tuần và Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA nửa giờ/tuần), và Chương Trình Truyền Hình Xây Dựng Nông Thôn mỗi tuần một giờ.

















































































