Kỳ 17
Nam Dao
Nghe Trãi nói, Xuyến bỗng bực mình, cắn môi nói dỗi:
– Thầy không nhận thì em phải quẳng hết xuống sông Tô Lịch.
Gượng cười, Xuyến cố giấu giọng trách móc, nhưng nước mắt đã ứa. Bặm môi, nàng nghẹn ngào:
– Năm hết Tết đến, xin thầy dăm chữ đón xuân.
Nén thở dài, Trãi nói nhỏ:
– Ðồ kiết thì chỉ còn ít chữ, Xuyến đợi một tí nhé.
Gọi học trò mài mực, Trãi giải lên phản một cuộn giấy hoa tiên. Nhìn Xuyến nay đã vén lại tóc, Trãi để ý nàng có thoa chút hương hồng lên má. Ðứa cháu gái của Xuyến không biết thủ thỉ gì, Xuyến nhăn mặt đứng dậy, vẻ vội vã. Bên ngoài, nắng rực rỡ. Hai con chó con nằm trên nền đất ngửa bụng ra rởn với bóng tre nghiêng ngả theo những cơn gió đùa cợt nhả.
Trãi giơ tay ra dấu cho Xuyến đợi rồi bắt đầu chấm mực. Chàng cắn răng viết một mạch, bút vung lên rồi hạ xuống, người căng ra nhấp nhô sóng lượn. Nét cuối không khác một đường gươm chém xống nước, kèm theo một hơi thở nhẹ ngậm ngùi. Xuyến giơ tay đỡ mảnh hoa tiên. Trãi viết:
Góc thành Nam, lều một gian
Gót chân qua, tình miên man
Bụi một tấc lòng, ai người biết
Chèo quơ nước ngược chuyến đò ngang
Tay cuộn mảnh hoa tiên, Xuyến đứng trân trân, mắt cúi nhìn xuống đất. Ngửng phắt lên, Xuyến bậm môi nói nhanh:
– Sao thầy cứ một thân một mình mãi thế này. Hay là…
Con bé cháu đã ra đến ngoài sân, quay vào giục. Trãi nghe như gió thì thầm hỏi bao giờ nước mới xuôi cho thuyền thuận chuyến sang ngang. Ra ngoài đứng nhìn theo Xuyến cho đến khi khuất bóng cuối dốc, Trãi thở dài.
***
Sau khi tế sống cha trên ải Phá Lũy, Trãi mang Hà Trí Viễn về Nhị Khê. Giục vợ con, đàn em nhỏ và mẹ ghẻ sửa soạn trẩy về Ái Châu, Trãi gửi gấm cả gia đình vào tay nhà ông chú họ. Hai ngày trước khi lên đường thì quan quân nhà Minh ập tới. Trát quan Thượng Thư Hoàng Phúc triệu Trãi về Ðông Quan, kèm một hàng chữ mai mỉa, “…giả như không về thì chỉ còn gặp nhau nơi chín suối!” Chỉ kịp dặn Viễn thay mình đưa cả gia đình đi, Trãi phải theo đám quan quân nhà Minh vượt sông Nhị vào Giao Châu phủ. Gặp mặt, Hoàng Phúc tươi cười: “Quí bằng hữu! Thật là may, câu chuyện bỏ dở nơi ải quan ta nay thừa thì giờ mà bàn.” Nghe Phúc thuyết phục cả một ngày về lẽ xuất xử, Trãi ầm ừ. Phúc lại bảo: “Ở Mô Ðộ, Giản Ðịnh tự xưng Ðế. Quân Thiên triều đánh một trận, tan tác chạy về Nghệ An. Tri Châu Ðỗ Tất theo phò, cùng bọn ngụy thần kéo quân đến Bình Than. Quân Thiên triều lại phải ra tay, chưa đánh chúng đã vỡ. Giản Ðịnh thua, chưa có thế lực gì, thế mà đem giết tôn thất là Thúc Dao và Nhật Chiêu là kẻ đem binh về phò, rõ là nhà Trần đất Giao Chỉ này đã tận rồi! Người như thế, ông định theo mà dấy lại cơ nghiệp à?” Trãi lắc đầu. Phúc sai đốt trầm, trịnh trọng mở tờ chiếu Hoàng Ðế nhà Minh để lên thư án, bảo Trãi đọc. Chiếu viết:
“… còn dư chúng không hàng phục, vốn ngu muội bị bắt ép, dụ dỗ nên tình cùng đáng thương, nếu nhất loạt bắt tội cả, trẫm thực không nỡ. Khi chiếu thư này tới, đều tha cho cả. Quan lại ở các nha môn hãy thể lòng chí nhân của trẫm phải khoan hồng, thương xót, chớ làm ráo riết, vơ vét của dân, hết thẩy những việc không cần kíp phải ngừng bỏ cả.”
Ðợi Trãi dứt lời, Phúc nhìn Trãi thân mật, “Lúc này là lúc mang cái học ra cứu đời xây cuộc thịnh trị.” Trãi vẫn nhỏ nhẹ kiếu việc nha môn. Giọng nửa giễu cợt nửa răn đe, Phúc hẹn, “Thì cứ để sang năm, ta lại gặp lại. Còn từ nay trở đi, ông bạn không được ra khỏi thành Ðông Quan nếu không có phép nhé!” Từ đó, Trãi tìm một góc nơi thành Nam, độ nhật bằng cách dạy học nay đã được vài năm.
Chỉ còn ba ngày nữa là Tết. Bọn học trò đã bắt đầu bồn chồn không yên. Buổi học sáng nay là buổi cuối, chúng làm vui lòng thầy, gò người hí hoáy ngồi viết trên những chiếc chõng tre trong căn lều cửa ngỏ thông thống. Ði đi lại lại, Trãi thỉnh thoảng lại dừng bước ôn tồn nhỏ nhẹ bảo ban đám trẻ. Áo quần mỏng mảnh, chúng lập cập run rẩy trong những cơn gió cuối Ðông mang cái lạnh giá thốc vào mái gianh chơ vơ trống Trãi. Bỗng có tiếng lính hô trước cửa. Ngoảnh nhìn ra, Trãi ngạc nhiên. Bước từ trên kiệu xuống, Hoàng Phúc phẩy tay bảo đám vệ sĩ dừng ở ngoài cửa. Kéo lại giải chiếc mũ Thượng Thư, Phúc nhếch miệng rồi đằng hắng:
– Chào cố nhân!
Quay lại, Trãi khẽ nghiêng người, tay chắp:
– Kính chào thượng quan.



























































































