Nam Dao
Mồng Ba Tết, năm Quý Tỵ. Đông Quan vào Xuân nhưng tối nay trời bỗng lạnh hẳn xuống. Những cơn mưa dầm ngỡ đã qua lại kéo nhau về sụt sùi dai dẳng. Gió ù ù thổi văng vào thế gian cái ẩm lạnh buốt người ta tưởng đã quên được từ buổi tàn Đông.
Trãi khép tấm liếp, quàng tấm áo bông lên vai, lẳng lặng ngồi dựa mình vào chiếc cột giữa căn nhà trống vắng. Tiếng mưa nỉ non gợi lại những ngày qua. Qua đi như đám lục bình trôi sông, như đám mây vờn trên nước. Qua đi bữa đói bữa no. Qua đi những đêm dài chong ngọn đèn dầu chờ sáng. Còn ở lại? Chút hương phấn hôm nào Xuyến đến. Khóe mắt có đuôi thấp thoáng định mệnh ánh lên từ sự bí ẩn nhất của con người. Đó là đam mê. Và rồi đam mê cũng sẽ qua. Nếu không còn gì, thì thế thôi.
Trãi ngả người lên chiếc võng, mắt áp vào chiếc gối vẫn thoang thoảng mùi bồ kếp từ mớ tóc Xuyến vấn cao để lộ ba ngấn cổ thuôn cong ngọc ngà. Vẫn mưa. Mưa rỉ rả. Tiếng côn trùng vẳng đến mơ hồ nửa hư nửa thực. Bóng tối sập xuống vách đất trát rơm dưới ánh đèn hiu hắt cứ chập chờn nhảy múa đùa cợt. Trên xà nhà, một tà áo xanh rũ xuống.
– Ơ, người là ai?
– A ha, mi không biết à?
– Liên quan gì đến ta?
– Ta là người đàn bà vừa chết. Ta là kẻ báo mộng xin với ngươi thêm ba ngày để ấp xong trứng. Hừ, chỉ thế mà mi không cho. Bọn học trò phát cỏ đuổi theo. Ta quay lại van vỉ.
Thằng lớn nhất:
– Cái thằng trưởng tràng.
Nó vung cây gậy quật xuống. Tiếng xương sọ vỡ vụn nghe như tiếng chim non kêu. Đầu ta dập ra, nát bét, ép nhẹp. Hai vợ chồng ta đến ở nhờ trong đám cỏ tranh, đợi cho hai cái trứng nở là đi. Tội tình gì mà mi đánh đuổi. Chồng ta mất vợ, mất con định về rình cắn cho mi chết. Nhưng không, mi đi vắng. Thất vọng, chồng ta trầm mình trong dòng nước sông Tô, đầu rúc vào lòng bùn, bỏ cái dương gian khốn nạn này cho bọn mi sống. Nhưng ta thì không. Này, mạng sẽ trả mạng.
Hai cánh tay từ xà nhà dài ra uốn éo rồi siết vào cổ Trãi. Sặc sụa, Trãi cố há miệng hớp hơi vào, kêu trời hỡi trời, nào ai ngờ là trong đám cỏ gianh có nhà rắn!
– Mặt đất này là của chung, loài người chúng bay lấy cái nghĩa lý gì để làm thành tư riêng mà đánh đuổi muôn loài? Nghĩa lý không có, nhưng chúng bay có phương tiện! Luyện kim làm dao búa, đao kiếm, chúng bay hóa ra chúa muôn loài, đến hổ báo voi gấu cũng phải lui về ẩn sơn lâm. Huyễn hão, chúng bay đòi sẽ chinh phục thiên nhiên, ngăn sông, xẻ núi, phá rừng. Rồi coi, một ngày bay sáng mắt ra để nhìn cho rõ cái thân phận chúng bay. Cũng là từ thiên nhiên, bay như muôn loài, khác gì từ con sâu cái kiến cho đến ngọn cây cành cỏ?
Trãi cố vùng, nhưng người tê liệt, ngực nặng như bị đá đè. Trãi thét lên:
– Không không, loài người chúng ta không ngu độn đến thế!
– Bay còn ngu độn hơn thế. Chính con người mới là kẻ thù của chính mình. Như người Minh với người Đại Việt. Như người họ Trần với người họ Hồ. Như Hoàng Phúc với ngươi. A ha, chúng bay thù oán chém giết nhau thật, nhưng thế đã đủ đâu. Chúng bay còn chém giết muôn loài, say máu đến độ coi như thế là tự nhiên. Tết năm nay, dân Đông Quan ăn bao nhiêu gà, bao nhiêu vịt, bao nhiêu lợn, bao nhiêu bò?
Trãi nghiến răng giơ chân đạp, mồ hôi ra ướt đầm lưng áo. Vùng vẫy cho đến khi ngã lăn xuống nền nhà, Trãi thấy miệng mằn mặn vị máu. Choáng váng, Trãi ra ngồi ở thư án, tay ôm lấy đầu. Mở tập giấy Trãi đã gửi gắm vào cả trí tuệ mình năm sáu năm nay, Trãi ngẩn ngơ rồi cố tập trung đọc từng chữ.
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.
Sách Bình Ngô bắt đầu như vậy. Nhưng mắt Trãi hoa lên. Trên xà nhà, một con rắn uốn éo bò, mắt lấp loáng ánh lân tinh xanh lè, đầu vắt vẻo chúc xuống. Trãi cắn môi, tay nắm cái nghiên mực ném lên.
Tiếng đá xoang xoảng vỡ toang thành mảnh sắc cắt thực tại từ mê hoảng trộn lộn vào một không gian lạ lùng, trên có bàn thờ tổ họ Nguyễn ở Nhị Khê. Lửa bất chợt bùng cháy, bốc lên đến xà nhà khiến con rắn trườn xuống, đầu ngóc vào làm đổ bát hương thờ. Có người chồm lên đỡ, nhưng không kịp, áo đột nhiên bắt lửa thành đuốc. Trãi không còn thấy con rắn, nay chỉ có cha mình quằn quại trong ánh lửa đỏ mỗi lúc mỗi sóng sánh chảy ào ra một thứ dung dịch bốc mùi tanh tưởi. Hoảng sợ, Trãi co người nhưng hai chân bị kéo xoạc ra, bụng nhầy nhẫy chất nhờn loài bò sát uốn éo trờn qua trờn lại, tai thình lình lại chói nhọn tiếng hú địa đầu năm nọ. Trãi vùng vẫy tuyệt vọng. Tiếng rắn phì phì phun nọc phà sát màng nhĩ. Hơi tanh lắng xuống thật sâu khứu giác rồi bốc lên lợm mùi xác chết đang rữa thối.
Lưỡi rắn nhớp nháp thò ra liếm láp hạ thể, trườn dần xuống bắp đùi, kích thích khiến xúc giác nhột nhạt hóa ra hình phạt. Thét lên hãi hùng, Trãi nghiến răng vùng dậy nhưng lại ngã úp mặt xuống trang sách đọc dở. Có phải một giọt máu ở đâu vừa rơi vào chữ Đại trong câu, ‘‘Nhân tất thế thiên, thể hành đại mệnh,” đoạn nói về quan hệ giữa đấng tối thượng và con người trần thế này. Đó là một phủ quyết về thiên mệnh. Điều này quả táo bạo ở thời đại Trãi đang sống. Nhưng thực ra đó cũng chỉ là cái vùng mình tuyệt vọng chống lại sự bé nhỏ thảm hại của thân phận con người.
Giọt máu trên chữ Đại thấm qua ba trang sách.



























































































