Đất Trời (kỳ 21)


Nam Dao



Phạm Văn Xảo cho người đến hẹn Trần Nguyên Hãn ở quán Hậu Đình. Vốn lịch lãm nhưng kín đáo, Xảo khôn ngoan giao dịch với Thượng Tướng Trương Phụ. Để tóc dài rồi tết đuôi sam, Xảo hòa nhập dễ dàng với đám quan quân nhà Minh. Phụ tin cậy giao cho Xảo công việc chuyển vận từ Giao Châu về chính quốc.

Khi chuyển ngọc châu, kỳ hương, sừng tê về Yên Kinh, lần nào Xảo cũng tìm cách giữ được một phần riêng cho Phụ. Thuở theo Trùng Quang đế, Hãn lờ mờ biết rằng những tin mật thăm dò được từ bọn người Minh cầm đầu Giao Châu có thể là do Xảo báo. Vốn thận trọng, Xảo giao du rất giới hạn, không hề lộ ra một điều gì cho ai nghi ngờ được.

Xưa nay, Đông Đô có phường Yên Hoa là nơi tục khách đến vui chơi hát xướng. Phường có độ ba trăm nóc gia, tửu lầu nhan nhản hai bên đường, nhưng nhà hát nổi tiếng thanh lịch thì chỉ có dăm ba. Ở những nơi đó, ca kỹ được luyện tập từ tấm bé. Thường họ biết chữ, và từ khi Giao Chỉ thuộc Minh, đã có những cô hát được sành sỏi các làn điệu như Ức Tần Nga, Tần Thu Hoài, Vọng Giang Nam. Nhiều tác phẩm lừng danh bên Đại Quốc Triều Tống hiện thời rất thịnh. Nhất là Tống từ của nữ sĩ Lý Thanh Chiêu, nỉ non kể lể nỗi niềm đám vợ hiền con thảo của những kẻ chinh chiến, khơi dậy nỗi buồn xa xứ trong lòng bọn quan quân biên ải.

Tiếng đàn sáo văng vẳng ngay từ đầu một cái ngõ đủ rộng cho hai cái kiệu đi. Trước cửa nhà hát, người ta treo những lồng đèn màu. Ánh sáng yếu ớt hắt qua những tấm sáo kín đáo che đậy vừa đủ để khêu gợi sự tò mò. Thỉnh thoảng tiếng cười đàn bà con gái cất lên, khi ròn rã gọi mời, khi lại uốn éo tựa tiếng mèo hoang động đực. Hãn dừng chân trước một căn nhà, tay vén bức sáo, nhô đầu vào định hỏi đâu là quán Hậu Đình. Bên trong, năm bảy cô ca nhi đang tựa vai kề má một bọn lính, tay chuốc rượu, mắt đưa tình, chẳng ai thèm trả lời. Thình lình, từ buồng trong một tên phóng mình ra, tay giữ cạp quần, cứ thế cắm đầu chạy. Đằng sau, một ả nạ dòng đuổi theo, miệng la oai oái “…nó chơi quỵt, chị em ơi! Túm lại hộ!” Thuận chân, Hãn ngáng rồi giả vờ ngã theo tên lính, tay giúi đầu hắn xuống đất. Ả nạ dòng nắm cái giải quần tên lính, bù lu bù loa, kéo xềnh xệch. Cuộc ngã giá nhanh chóng kết thúc, với sự can thiệp của một mụ tú bà sành sỏi. Ả nạ dòng ngúng nguẩy, trả công Hãn bằng cách chỉ cho Hãn quán Hậu Đình ở mé phải cuối ngõ.

Đến trước, Hãn ngồi đợi trong một căn phòng do Xảo đã đặt sẵn. Bên cạnh, tiếng đàn thất huyền chậm rãi hòa vào tiếng tiêu đang vút cao rồi bỗng thình lình hạ xuống hẳn hai cung. Một giọng hát lảnh lót bất chợt cất lên, lời đong đưa:


Trời vầng mây nổi sương giăng mắc
Tinh hà xoay nghìn cánh buồm say
Hồn ngỡ bàng hoàng về đất cũ
Thoáng bên tai
Ai đi về?
Về đâu đây?
Chỉ biết đường xa chiều đã tà
Theo chẳng kịp chân vần thơ cổ
Gió lại chẳng dừng
Thuyền Bồng nào ghé bến mơ xa.


Tiếng hát kéo dài van vỉ tiếc nuối. Nó vẳng xa như một giấc mơ đọng lại ở phút cuối giấc ngủ, lềnh bềnh giữa hư thực, mỏng mảnh nối quá khứ vào hiện tại. Hãn chạnh lòng hồi tưởng lại quãng thời gian phiêu bạt. Tháng tám năm Kỷ Sửu, Hãn đến Bình Than sung quân. Trương Phụ nhà Minh vây hãm, Hãn theo Đỗ Dung lui về cửa Hàm Tử. Quân ta phải gặt lúa sớm, lính bữa đói bữa no, lâu tất phải thua vì lương thiếu. Trương Phụ đến đâu, thây chết thành non chỗ ấy. Lính Minh cướp bóc và giết chóc như trò chơi. Chúng rán thịt lấy mỡ, móc ruột quấn cây làm đuốc, mổ bụng moi thai mang nộp lấy thưởng, sự tàn bạo khiến đến cỏ cũng không dám mọc thẳng trên đất Giao Chỉ. Thủy quân của phụ phá được Hàm Tử, vua Trùng Quang lui về Nghệ An cầm cự được hơn một năm. Đến tháng tư năm Quí Tỵ, quân ta mười phần còn ba, phải lùi vào Hóa Châu. Vua sai sứ giả mang phương vật đến Nghệ An xin cầu phong. Trương Phụ chỉ cười, không thèm trả lời, mang chém sứ. Nghe tin, Trùng Quang Đế khóc rồi lại tính gửi sứ giả khác đến gặp Phụ. Đỗ Dung cản nhưng vua không nghe. Dung lẳng lặng chẳng nói gì, suốt đêm mài kiếm, tiếng đá xoèn xoẹt chói buốt khiến không một ai ngủ được. Tảng sáng, Hãn đến. Dung nói ngay, ‘‘Ông đến cáo biệt, ta biết rồi!” Hãn ngậm ngùi, ‘‘Nhà Trần tuyệt mất, tôi là tôn thất mà nay cũng chịu. Tướng quân đi với tôi, ta lo kế khác.” Đỗ Dung ngửa mặt cười một thôi dài rồi bảo, ‘‘Ông đi đi. Nhớ cầm theo cái này…”

Đó là bài thơ Cảm Hoài, than rằng dưới trăng mài kiếm đã mấy chầy, sự thế lao đao khi tuổi tác, nợ nước chưa trả mà đầu đã bạc với tháng ngày.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT