Nhớ chuyện Tô Vũ đọc thơ Ngô Chi Lan


Viên Linh


Hơn mười năm trước nhân cái Tết Quí Mùi 2003, tới cái Tết Ất Mùi 2015 này, để làm một giai phẩm Xuân, người viết bài này đã thuật chuyện nữ sĩ Ngô Chi Lan thời vua Lê Thánh Tông thế kỷ XV, nhân bài thơ của bà về chuyện Tô Vũ Mục Dương chia tay người vợ vốn là một nàng vượn cũng gọi là hầu nhân. Năm nay lại tới những ngày “mã đề dương cước,” một lần nữa lại có dịp tìm hiểu thêm về bà Ngô Chi Lan tỉnh Phúc Yên, rồi ông Nghiêm Công đất Quảng Nam, và thơ văn liên hệ tới loài dê, từ Tô Vũ Từ Hồ Phụ (Tô Vũ biệt vợ Hồ) đến Hồ Phụ Tống Tô Vũ (Vợ Hồ tiễn Tô Vũ) và chuyện chăn dê lùa bò của Bùi Giáng.









Trang trí rồng phượng bằng ngọc thạch khắc nổi đường kính 6” tìm thấy trong mộ con trai vua Nam Việt (thế kỷ thứ hai trước Tây lịch) ở “Xianggang, Guanzhou, Guandong province.” [Chú thích tiếng Anh: “From the tomb of the King of Nanyue…” Tài liệu trích báo Khởi Hành số đặc biệt “Tìm thấy mộ con trai Trọng Thủy,” số 55, năm 2001. Hình do Viên Linh cung cấp.


“Huyện Kim Hoa có người con gái họ Ngô tên Chi-Lan, là bậc nội trợ hiền của vị tiên-sinh họ Phù. [Huyện Kim Hoa thuộc xứ Kinh Bắc, nay là huyện Kim Anh thuộc tỉnh Phúc Yên, phía Bắc Thăng Long Hà Nội; Chi-Lan lấy ông học-sĩ Phù Thúc Hoành người làng Phù Lỗ huyện ấy, giảng dạy tại Quốc Tử Giám. Có sách nói nàng tên là Nguyễn Hạ Huệ. Theo Ðặng Thị Hảo trong Từ Ðiển Văn Học, bà là con nuôi của Nguyễn Thị Lộ]. Nàng chữ tốt văn hay, nhất là thơ ca càng giỏi lắm. Ðức Thuần hoàng-đế (Thánh Tông), triều nhà Lê yêu tài văn-mặc, vời nàng vào cung, giao cho việc dạy các cung nữ. Mỗi khi yến tiệc, nàng thường ôm quyền đứng chầu hầu vua, hễ vua phán làm thơ, chỉ thoắt chốc đã làm xong ngay, không cần phải chữa sửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi nàng mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên.” (Nguyễn Dữ, Truyền Kỳ Mạn Lục).



Tô Vũ Từ Hồ Phụ


Ngập ngừng bưng chén ly bôi
Nghĩ mình muôn dặm thương người năm canh
Nhớ duyên kỳ ngộ ba sinh
Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.
Ngọn sứ tiết lung lay chín bệ
Nặng chữ trung nên nhẹ tình riêng
Ngỡ ngàng khi quảy gánh buộc yên
Rượu một chén, lụy đôi hàng lã chã
Trách bà Nguyệt ông Tơ sao khuây khỏa
Ðem duyên em mà vấn chạ xích thằng
Phỏng xưa kia vương lấy chàng Lăng
Tình sum họp chiếu chăn càng mãi mãi
Hay là cá nước chẳng ưa màu phấn đại
Ðem duyên em buộc lại chàng Tô
Xui nên kẻ Hán người Hồ…

Ngô Chi Lan


(Không rõ ngày sinh ngày mất – sống cùng thời vua Lê Thánh Tông 1460-1497. Bài thơ trên chép theo Tự Ðiển Thành Ngữ Ðiển Tích của Diên Hương, Zieleks xuất bản, 1981.)


Tô Vũ làm quan trong triều Hán Võ đế (nhà Tây Hán, 111 trước Tây lịch), được cử đi sứ nước Hung (sử Tàu miệt thị là Hung nô, như miệt thị ta là Nam di), chúa Hung là Thuyền Vu muốn giữ lại trong triều như ông ta đã giữ mấy quan chức nhà Hán là Lý Lăng và Vệ Luật, song Tô Vũ không chịu. Thuyền Vu ra lệnh bắt Tô Vũ nhốt trong hang đá, ba ngày không cho ăn uống. Nhưng Tô Vũ không chết mà chúa Hung cũng không nỡ giết, bèn đày lên mạn cực Bắc, bắt chăn dê, hứa rằng khi nào dê đực sinh con thì sẽ thả.


Trong thời gian chăn dê, Tô Vũ viết thư buộc vào chân chim, cầu nguyện cho chim mang thư về cho Hán Võ đế. Mười chín năm trôi qua, Thuyền Vu và nhà Hán giao hảo trở lại, nhờ đó Tô Vũ được trả về cố quốc.


Có chuyện loan truyền rằng trong những năm bị đi đày ở nước Hung, chăn dê ở mạn Bắc, Tô Vũ có làm bạn với một nữ hầu nhân, tức là một con vượn cái (người Việt hay dùng chữ đười ươi để chỉ giống vượn to lớn này). Vẫn theo chuyện kể, Tô Vũ và nàng vượn sống với nhau ra chiều âu yếm, như vợ chồng ý hợp tâm đồng. Ðến khi được thả về xứ, chàng Tô không nỡ rời chân, bước đi một bước lại nhìn lui, vô cùng bịn rịn. Trong văn chương Trung Hoa do đó có chuyện “Tô Vũ Mục Dương” (Tô Vũ chăn dê).


Ngô Chi Lan và chồng từng là nhân vật chính trong danh tác cổ điển Việt Nam Truyền Kỳ Mạn Lục, trong truyện “Cuộc Nói Chuyện Thơ ở Kim Hoa,” theo đó một thư sinh tên Mao Tử Biên trên đường từ kinh thành (Hà Nội bây giờ) trở về Thái Nguyên thì giữa đêm gặp cơn mưa gió, chạy vào cổng một dinh cơ còn sáng ánh đèn ở huyện Kim Hoa, thì chợt nghe trong nhà có cặp vợ chồng đang bàn chuyện thi phú; đó là Ngô Chi Lan và Phù Thúc Hoành. Một lát có một thi khách cưỡi lừa tới chơi, đó là nhà thơ Lã Ðường ở Bắc Ninh, tức là Tiến Sĩ Sái Thuận danh yết bảng vàng vào năm thứ 6 đời Hồng Ðức nhà Lê. Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ, Ngô Chi Lan và Lã Ðường đã đàm đạo vô cùng tương đắc; nữ sĩ họ Ngô còn là một trang nữ lưu xinh đẹp và thông tuệ của nước Nam vào thế kỷ thứ XV:


“Ðường về qua hạt huyện Kim Hoa, chợt gặp cơn mưa gió. Thôn xa đồng vắng, trời lại tối sập xuống. Tử Biên đưa mắt nhìn quanh, thấy ở đàng Nam có bóng đèn thấp thoáng, bèn rảo bước đến. Ðến nơi thì thấy có mấy gian nhà tranh ở khoảng giữa cây cối rậm rạp, Tử Biên nhân lúc túng bí, nói xin vào ngủ nhờ; song người coi cổng không cho vào. Chàng trông vào trong nhà, thấy một ông già đương ngồi ở giữa giường, bên cạnh có một vị mỹ nhân, trâm ngọc hài cườm, coi như một vị phi tần vậy. Mỹ nhân nói với ra, bảo người coi cổng:


-Canh khuya đêm vắng, trời lại mưa gió, người ta xin ngủ nhờ không cho thì người ta ngủ đâu bây giờ?


Thấy chủ nhà nói vậy, Tử Biên vén áo bước vào, nghỉ nhờ ở mái hiên phía Nam nhà khách.


Gần đến trống hai, chàng thấy có một người mày râu đã nửa phần trắng bạc, hai vai cao trội, cưỡi một con lừa tía đi đến. Ông già xuống thềm đón tiếp nói: 


-Ðường xa lận đận đến chơi, tiên sinh sao mà chịu khó thế!


Khách nói: 


-Trót đã ước hẹn, không nỡ sai lời. Chỉ buồn mưa gió đầy thành.


Chủ khách bèn chia ngôi cùng ngồi đối diện bàn luận văn chương; cả phu nhân cũng dự nhưng ngồi thấp xuống một bậc. Ông khách thấy phu nhân có làm bốn bài từ bốn mùa đề vào bốn bức bình bằng vân mầu, bèn thử đọc xem.”


Ðó là bốn bài Xuân Hạ Thu Ðông nổi tiếng của Ngô Chi Lan, sách văn học nào cũng có ghi chép. Ở đây chỉ xin chép lại bốn bài dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện.



Xuân Từ


Hun người nắng mới như say
Lâu đài ấm áp nhuốm đầy dương quang.
Cách rèm liễu biếc oanh vàng,
Quanh hiên cái bướm mơ màng bên hoa
Trước thềm ánh nhật dài ra,
Mầu hôi dâm-dấp xiêm là đượm xanh,
Sầu xuân nặng trĩu bền mình,
Ngây thơ gã nhỏ lanh-chanh cợt cười.



Hạ Từ


Gió rung hoa lựu tơi bời
Trên đầu tha-thướt dáng người mỹ-nhân.
Oanh vàng ủ-rũ thương xuân,
Một đôi én tía họa vần trong cây.
Dừng kim rủ thấp đôi mày,
Nương song hồn mộng xa bay cuối trời.
Cuộn rèm nheo-nhéo kìa ai,
Cho hồn chẳng tới cõi ngoài Liêu Tây.



Thu Từ


Hơi may hiu-hắt bàu không,
Tinh sương thấp-thoáng cánh hồng xa bay
Sen tàn giếng hãy thơm lây,
Ba canh gió thổi lạnh đày sông Ngô.
Bên lan đóm lượn ra vô,
Phong-phanh áo mỏng hơi lùa căm-căm
Tiếng tiêu đã dứt, âm-thầm,
Ðài Dao đâu tá khôn nhằm dấu loan.



Ðông Từ


Lò hương nhóm ngọn lửa hồng
La Phù một chén ấm lòng ban mai
Lọt rèm tuyết lạnh lồng hơi, 
Gió đưa băng rụng tơi-bời mặt ao.
Mỹ-nhân trướng gấm rủ thao.
Cửa hồ phất giấy song cao vắng người.
Thần đem xuân lại cho đời.
Ðầu non chớm nở một trời mai-hoa.


“Ông khách đọc xong than rằng:


-Nam-châu nếu không có tôi, biết đâu phu nhân chẳng là tay tuyệt xướng; mà tôi nếu không có phu nhân, biết đâu chẳng là tay kiệt xuất trong một thời. Thế mới biết lời đồn quả không ngoa thật.”


Ngô Chi Lan còn làm bài thơ Núi Vệ Linh nơi Phù Ðổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt về trời, được vua tặng cho một bộ áo, và làm hai câu thơ Uyên Ương được vua tặng cho 5 đỉnh vàng, và gọi là Phủ Gia Nữ Học Sĩ. Nhờ bài thơ về Tô Vũ biệt vợ Hồ, ta thưởng thức thêm bốn bài từ cho bốn mùa trong năm của bà, trước sau sống có hơn 40 năm, bà chỉ còn để lại khoảng sáu bảy bài thơ bài từ mà thôi.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT