Kỳ 73
Nam Dao
Giọng có chút bùi ngùi, Khiêm nhỏ nhẹ:
– Cao quí thay những kẻ lấm tay nhập thế mà vẫn giữ được tâm sạch chốn tu hành…
Khả chép miệng:
– Cao quí thay, mà cũng tội nghiệp thay!
Ngẫm nghĩ, Khả tiếp, giọng khoan thai:
– Lúc gặp, ta sẽ đọc tặng cho Trãi hai câu kệ xem thế nào. Ngày xưa, khi Trãi đến Báo Thiên xin ta xuống tóc, ta đùa “Thế là thí chủ quét bụi vào sân chùa rồi.” Trãi đáp làm sao, sư đệ đoán thử xem?
Ðạo Khiêm cười mỉm:
– Cứ như đệ biết về Trãi, thì Trãi sẽ thưa là sân chùa có chút bụi mà thế gian sạch hơn, chẳng phải là lượng Phật sao?
– Không! Trãi ngậm ngùi nhìn ta một lát rồi thốt: bụi trần mà nhà chùa không nhận thì quét về chốn nao. Ta vẫn nghĩ Trãi là kẻ về mặt trí thì chọn Danh giáo, tâm là tâm Phật và chất, lại là cái chất Lão đạo phóng khoáng. Cũng vì là Trãi mà cái việc Triều đình đòi, ta ưng. Tăng lữ dưới ngũ tuần thi để lọc ra quả thật cũng không sao. Nhân dịp, ta rửa sạch sân chùa… Gạn lọc cũng có thể là cái duyên may!
Ðạo Khiêm cúi đầu lĩnh ý. Khả ung dung tiếp:
– Chẳng còn bao lâu, đệ thay ta trụ trì Báo Thiên và hoằng hóa Phập pháp. Ta chỉ căn dặn một điều, là lấy lòng người làm gốc, coi quyền thế vinh hoa là ngọn.
Quơ tay lấy chén nước, Ðạo Khả nhắp rồi tiếp:
– Ừ, cứ thỉnh thoảng ra mà xem bài văn bia của Lê Quát ở chùa Thiên Phúc: “Sao không mệnh lệnh mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin. Chỗ nào có người ở, tất có chùa Phật…”
***
Mồng hai Tết, Trãi về đến Nhị Khê khi mặt trời đứng bóng. Vài tháng sau khi quân Minh rút đi, Ðào Nương đã cho bốc mộ Vàng Anh rồi cùng với đám con gái quay lại quê chồng. Từ đống tro gạch điêu tàn, họ tay không dựng lại cái cơ đồ chẳng còn gì ngoài hai mẫu đất và khu mộ tổ nằm trên sườn đồi. Mẹ con họ Ðào định năm nay lên Xương Giang tìm mả Phi Bảo. Ðào Nương xót xa nói với các con “Ðể cha về đây nằm với các cụ thì mới yên lòng được!”
Dân làng phiêu tán nay lục đục hồi hương. Nhị Khê hồi sinh trong tiếng nói cười rôm rả buổi đầu xuân, xác pháo hồng rắc trên sân như dấu ấn những niềm vui mới tìm lại. Biết Trãi về, dân kéo nhau đến chào hỏi khiến chỉ đến tối Trãi mới quây quần với đám cháu và cô em dâu. Ðào Nương già sọm xuống, mặt xương xương vất vả nhưng mắt vẫn ánh lên nét cương nghị thuở nào. Nhìn các cháu, bao nhiêu hình ảnh nơi trại chè bỗng dưng chập chờn đâu đây. Bờ sông Lam đá trắng, Ðào lão móm mém mắt lòa, tay quờ quạng. Vàng Anh giọng ngọng nghịu líu lo cất tiếng hát.
Ngơ ngẩn đắm hồn vào quá khứ, Trãi giật mình nghe Ðào Nương nhắc:
– Mai cả nhà lên cúng các cụ. Em đợi bác về để cùng đi tảo mộ. Ðã định chiều nay nhưng dân làng họ đến…
Trãi nhìn Ðào Nương, mắt biết ơn, miệng nhỏ nhẹ:
– Thím sửa soạn đi sớm nhé. Trưa mai có hẹn ở chùa Báo Thiên, tôi lại phải về Ðông Kinh rồi!
– Sao bác không ở dăm ngày? Tết nhất mà!
Ðếm đốt ngón tay, đã mười lăm năm nay Trãi mới về Nhị Khê vào dịp Tết. Lần cuối, còn Hà Trí Viễn ở đây, là năm chàng bỏ vào Mường Thôi tìm Trần Nguyên Hãn sau khi Viễn ám toán Thượng thư Hoàng Phúc. Mười lăm năm, như một chớp mắt. Thù nhà đã trả. Thế còn nợ nước. Dẫu sách Tâm công đã cho phép giữ sức dân nhưng đuổi giặc xong đâu đã là xong. Còn phải xây dựng lại một xã hội đang ngơ ngác trước những đổi thay. Kỷ cương phải mới. Nhưng mới thế nào? Và nhất là với một guồng máy triều chính non nớt, võ quan nhiều, văn quan lưa thưa. Quyền lực tập trung vào một tập hợp vừa có tính gia tộc của tân hoàng đế họ Lê, vừa có tính địa phương của miền Thanh Hóa, đất “tắm gội “ mưa móc mệnh Trời. Từ đó, sự phân hóa văn-võ và Kinh-Mường ngày càng rõ nét. Trãi có tâu với Lê Lợi, rằng thời bình là thời văn trị, phải chọn giữa giá gươm và cái tháp bút. Lợi hỏi, ông có bao giờ thấy cái ghế hai chân chưa? Trãi đang còn phân vân, Lợi tiếp, có giá gươm và tháp bút mới có hai. Còn cái ngai vua. Chòm lông trên cái nốt ruồi bên má trái Lợi lại giật lên. Nhìn vào mắt Trãi, Lợi thủng thỉnh, quan lại bộ thượng thư trách nhiệm việc tổ chức triều chính đừng quên cái chân ghế thứ ba nhé!



























































































