Viên Linh
Ngày 3 tháng 8, 1975, tôi xuất trại Indiantown Gap ở tiểu bang Pennsylvania để đi Washington, D.C., Thanh Nam lo lắng vô cùng. Trong thời gian sửa soạn rời Sài Gòn, không một ngày nào, mỗi chiều đi làm về, tôi không dừng cái xe Lambretta trước nhà anh trong ngõ Lý Thái Tổ, gần tiệm phở Tầu Bay. Ðó là do anh yêu cầu: mỗi ngày phải ghé cho anh biết tình hình tin tức đi hay ở ra sao. Cũng không mấy khó vì tôi cũng ở đường Lý Thái Tổ. Chúng tôi trước đó đã quyết định đi cùng với nhau, nếu phải rời đất nước.

Cổng trại Indiantow Gap, tháng 5, 1975, là trạm chuyển tiếp người tị nạn Cộng Sản Việt Nam tại miền Ðông Hoa Kỳ. Một vài trí thức văn nghệ sĩ miền Nam đã tới đây trước khi đi định cư có Nghiêm Xuân Hồng, Cao Văn Luận, Thanh Nam, Túy Hồng,Viên Linh,… Tác giả Viên Linh đã trở lại thăm trại cũ vào năm 2009, như trong hình. (Photo by Ilene Rosenberg, visiting proffessor of Art at Penn. State University)
Ðây cũng là một cái duyên hơi lạ thường.
Không biết vì nguyên do nào, tháng 11, 1974 tôi được mời làm việc cho Ðài Mẹ Việt Nam, một đài bí mật phát thanh thẳng ra Bắc từ một trạm phát tuyến ở Ðông Hà. Nơi làm việc là Nhà Số 7 đường Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Chỉ biết tôi được mời cấp tốc, không qua một thủ tục nào, dù đài trực thuộc Tòa Ðại Sứ Mỹ [Xem Frank Snepp, Decent Interval, đoạn nói về sự thành lập đài này]. Tôi không muốn nhận vì lúc đó vừa mở nhà in Phúc Hưng trong Chợ Lớn, vừa ra nguyệt san Thời Tập, khá bận. Vào làm mới biết trưởng ban biên tập là ông Khánh, vừa đột ngột rời chức vụ, tôi được mời thay chỗ của ông. Hai tuần sau, Túy Hồng được mời phụ trách viết mục Tâm Tình Phụ Nữ, một chương trình 5 phút phát thanh. Các chương trình khác còn nhớ có nhà văn Võ Phiến. Ðó là hai cộng tác viên từ bên ngoài, viết bài nào ăn nhuận bút bài đó; còn nhân viên tới đài tám tiếng một ngày có nhà văn Trúc Sỹ, anh Nguyễn Thượng Tiến, nhà văn Xuân Vũ, cô Hằng, Thượng Tá Tám Hà, nguyên phó tham mưu Sư Ðoàn 308 gì đó hoạt động quanh vùng Nha Trang, mới hồi chánh. Cố vấn trực tiếp là anh Edward X.
Cho nên mỗi tuần tôi giúp Thanh Nam bằng cách nếu có thể, đến lấy bài của Túy Hồng, nếu không anh phải đạp xe từ Lý Thái Tổ lên Hồng Thập Tự, quá xa cho một chiếc xe đạp mini. Trong những tháng ngày biến động kế tiếp, không một ngày nào chúng tôi không bàn bạc với nhau. Tình trạng khẩn trương hẳn khi Ban Mê Thuột thất thủ vào tháng 3,1975. Các nhân viên làm việc cho đài được hỏi ý kiến có muốn di tản không trong trường hợp phải “di tản theo cơ quan?” Thanh Nam và tôi không nghĩ ngợi. Ta đi. Và đi cùng với nhau. Do đó, ngay từ bước thứ nhất sửa soạn phải rời bỏ Sài Gòn, anh và tôi sửa soạn chung. Ði cùng một xe hơi nếu có thể. Ðến cùng một điểm hẹn. Ngã Tư Trương Minh Giảng-Hiền Vương. Vào cùng một trú điểm. Phú Quốc. Lên cùng một con tàu. American Challenger… Sở dĩ như thế là vì trước khi lấy Túy Hồng, anh chia phòng với tôi trên lầu ba cao ốc Cửu Long đường Hai Bà Trưng. Xuống cùng một Thành Phố Lều, Orote Point, Guam. Nhưng chia tay khi vào Ðất Khách. Bất đắc dĩ. Tôi còn nhớ cặp mắt thất thần của Thanh Nam khi tôi bảo anh gia đình tôi đã được gọi đi định cư ở Washington, D.C. Nhà thờ Mount Vernon bảo trợ gia đình chúng tôi tọa lạc trên đường số 9, N.E. ở thủ đô. Trước đó tôi đã bàn với anh: nhớ chỉ xin đi một trong hai nơi mà thôi: Nữu Ước và Hoa Thịnh Ðốn, thủ đô của ngành báo chí xuất bản, và thủ đô của quyền lực. Nhớ đừng nhận đi bất cứ đâu, ngoài hai nơi đó. “Vừa ở gần nhau, vừa tới chốn văn minh, vào ngay chỗ văn minh, không họ đưa mình vào sống với Da Ðỏ thì bỏ mẹ, vì mình không biết săn bắn.”
Hai tháng sau, tháng 10, 1975, sau mấy ngày Thanh Nam gọi điện thoại không ngừng, tôi mua một cái vé xe buýt 14 Mỹ kim từ Hoa Thịnh Ðốn đi New Jersey thăm anh. Anh dặn tôi nhiêu lần trong điện thoại: “Cậu nhớ mua một chai Johnny Walker cổ đỏ, chai vuông; hay một chai Black and White cổ tròn cũng được.” Tôi mua được một chai cổ đỏ khi xuống xe buýt ở Nữu Ước, lên một xe buýt khác đi tiểu bang New Jersey gần đó, giá vé là 2 Mỹ kim 60 xu.
Trong túi có 100 mk cho chuyến đi, đi về tính ra đã mất 28 mk xe đò, chai rượu đâu 9 mk, là 37 mk, hai lần vé Nữu Ước-New Jersey là 5 mk 20 xu, vị chi gần 43 mk, còn lại 50 mk sau khi cà phê thuốc lá, hậu tính. Chuyến đi này để lại nhiều “kỷ niệm đau thương”: thực tế, nhà thờ nói với vợ tôi sẽ cúp viện trợ vì tôi có tiền đi chơi vô bổ chỉ mới hai tháng ra trại (hàm ý gia đình tôi dư dả); thứ hai, đó là lần cuối cùng tôi gặp Thanh Nam; thứ ba: chai rượu Thằng Johnny Ði Bộ (Johnny Walker – chữ do Mai Thảo đặt từ những tháng năm ở Sài Gòn ba chúng tôi cùng làm tờ tuần báo Nghệ Thuật), có rượu ngay đây nhưng bạn tôi lại không uống.
Tôi không bao giờ quên được cái lúc mở bao giấy dầu kéo chai rượu ra. Ðang tưởng một cuộc tao phùng của hai chàng đãng tử coi nhau như anh em, sau chuyến đi mười ngàn dặm khứ quốc, tạm trú quê người ở hai vùng băng giá, nay lại gặp nhau. Nhưng Thanh Nam dúi ngay chai rượu trở vào trong bao. Cất đi thật lẹ. Nhớn nhác nhìn Túy Hồng. Rồi kéo tôi ra khỏi nhà, sau khi nói với vào: “Anh ra tiệm với Viên Linh.”
Chúng tôi không nói gì với nhau trong nhiều phút. Vừa đi, vừa hút thuốc. Trời tháng 10 ở miền Ðông bắt đầu lạnh. “Ði uống bia,” Thanh Nam nói. Tôi hơi suy nghĩ. Tại sao có rượu ngon không uống cho đỡ ghiền, lại đi uống bia?
Dần dần tôi cũng nhớ ra. Trước hết là một nền cỏ xanh tinh mơ sương đọng của Khe Trại Da Ðỏ. Khoảng 6 giờ sáng, thung lũng Indiantown Gap. Hôm trước tôi hẹn Thanh Nam là sẽ gọi anh đi uống cà phê sáng hôm sau, và dự định rủ anh Nghiêm Xuân Hồng cùng đi. Anh Nghiêm Xuân Hồng và Linh Mục Cao Văn Luận ở Trại 6. Chúng tôi ở Trại 5. Hai trại cách nhau khoảng 15 phút đi bộ.
Tôi đến sớm, vắng bóng người. Hình như còn quá sớm, có thể là mới hơn 5 giờ. “Thanh Nam!” – tôi gọi vọng vào. Thanh Nam đã chờ sẵn, thấy thấp thoáng sự di động. Ðây là trại lính, nhà sàn cất cao trên nền cỏ, bằng những cột gỗ to bản, vững chắc. Cùng một lúc, qua khe ván, tôi nhìn thấy bộ mặt Túy Hồng, và cái dáng của bạn tôi. Ðôi mắt Túy Hồng sáng quắc. Mái tóc rối. Rồi khuôn mặt Thanh Nam hiện ra, thiểu não. “Cậu đi trước đi.” Ðại khái như thế, và tôi im lặng gật đầu. Trong thung lũng xanh ngát của Khe Trại Da Ðỏ, tôi hướng về Trại 6 đi kiếm Nghiêm Xuân Hồng. Ðâu đã gần 6 giờ sáng. Cô con gái của tác giả Người Viễn Khách Thứ Mười hiện ra. “Bố cháu còn đang ngủ.” Anh có vợ thì vợ không cho đi. Anh không còn vợ thì con gái không cho đi. Tôi tới chỗ uống cà phê một mình, không hề gì.
Một thoáng chuyện cũ diễn ra trong đầu trong khi Thanh Nam và tôi đi bộ trên vỉa hè của một tỉnh nhỏ New Jersey, hướng tới một tiệm bán thực phẩm dành cho khách mua đi. Không bàn ghế. Tôi mua một xâu bia như anh thích. Ra ngoài, trên đường trở về nhà, anh nói: “Mình về nhà uống.” Ðó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau, sau đó anh dọn đi Seattle, tiểu bang Washington làm báo Ðất Mới với các ông Nguyễn Văn Giang, Vũ Ðức Vinh.
Thanh Nam
Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
Trôi dạt từ Ðông sang cõi Bắc
Hành trình trơ một gánh ưu tư
Quê người nghĩ xót thân lưu lạc
Ðất lạ đâu ngờ buổi viễn du
…
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Ðành cho giông bão phũ phàng đưa
Ðầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Ðổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Tập làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
(Thơ Xuân Ðất Khách, 1977)
Bài này Thanh Nam làm nhân cái Tết thứ hai trong cuộc sống lưu vong, Mồng 1 Tết Ðinh Tỵ nhằm ngày 18 tháng 2, 1977, dưới nhan đề ghi “Gởi Viên Linh.” In lại trong thi tập cùng nhan đề, trang 13. Thanh Nam tên khai sinh là Trần Ðại Việt, người Nam Ðịnh, ra đời ngày 26 tháng 8, 1931, vào Nam lập nghiệp năm 1952, từ trần tại Seattle ngày 2 tháng 6, 1985. Tác phẩm đã xuất bản – 1957: Hồng Ngọc, Người nữ danh ca. – 1963: Giấc ngủ cô đơn, Buồn Ga Nhỏ, Còn một đêm nay. – 1965: Bầy ngựa hoang, Giòng lệ thơ ngây, Những phố không đèn – 1968: Mấy mùa thương đau. 1983: Ðất Khách, thơ, Seattle. Tạp chí Hiện Ðại ra đời khoảng 1960, trụ sở tại đường Nguyễn An Ninh Sài Gòn, trong ban chủ trương có Nguyên Sa, Thanh Nam. Năm 1965 Thanh Nam là thư ký tòa soạn tuần báo Nghệ Thuật, sau đó 1966 nhường cho Viên Linh.
Ðoạn viết này được bổ sung 40 năm sau, một ngày trước Nguyên Ðán Ất Mùi 2015, người viết nhân dịp thắp một nén nhang chiêu niệm bạn, và các bằng hữu văn chương đã nằm xuống trên đất khách. Nhớ bạn thơ, đầm ấm nhất là đọc lại thơ bạn, nhất là những bài thơ được sáng tác ngoài đất nước, sau những ngày rời bỏ quê hương, và hơn nữa, những đoạn thơ về mùa xuân trên đất khách.
Mai Thảo
Một dấu tròn vo vĩ đại tròn
Là mày, mừng tuổi đó nghe con
Trong không ngoài rỗng không gì hết
Không cả không là cái số không.
(Mừng Tuổi Mình, 1989)
Mặc Ðỗ
Ðêm lạnh lẻ loi thơ thẩn ngồi
Nhâm nhi toan cạn nửa chai thôi
Giao thừa mỗi Tết tình thu gọn
Lạ hoắc đêm nay không Tết tôi.
(Giao Thừa, 2000)
Cao Tiêu
Áo xưa giờ bạc
Người cũ phương nào?
Gặp xuân đất khách
Mưa gieo nặng sầu.
Ta giữ trong ta
Cội thơm nguồn cũ
Thơ vẫn thơ hoa
Lòng tươi nét chữ.
(Tạp chí Văn)
Cung Trầm Tưởng
Hoa xuân nồng, trái xuân ngon
Mùa xuân công chúa hương còn ở đây
Em đi chiều biếc chân mây
Sao hôm năm cánh rơi đầy mắt sâu
(Công chúa)
Hà Huyền Chi
Cứ mưa thả xuống hồn tôi
Những gai buốt lạnh như đời tha hương
Cứ đêm vò nát tim buồn
Những xuân lữ thứ khói hương nhạt nhòa
Cứ đau nở giữa đài hoa
Cứ năm đè xuống tuổi già quạnh hiu
Cứ lang thang giữa chợ chiều
Cứ tôi khờ khạo nghĩ theo nếp mòn
(Xuân Lữ Thứ, 1990)
Hà Thúc Sinh
Chúa xuân đeo túi nặng
Ghé nhà ai hỏi han
Giữa đường tôi về gặp
Một lão già tần ngần
Này ông ơi, thi sĩ
Có gì tặng hoa thơm
Có gì cho nắng ấm
Có gì giúp lão không
Lục túi trên, dự tính
Lục túi dưới, bất ưng
Lục trong đầu, khát vọng
Lục trong tim, mối hờn
Lục khắp cùng xó xỉnh
Trên kệ sách bụi đầy
Trên máy chữ mòn mỏi
Chỉ có những đêm dài
Có gì cho lão không
Ông thi nhân, bạn cũ
Thưa đây những thanh gươm
Tôi mài vì cố xứ.
(hòa bình và tôi, 1994)
Hồ Tuấn Nhã
Ðất lạ xuân về ta nhớ quá
Cây nêu như một thứ hồn xưa
Ðã khuất chìm đâu sau miếu đổ
Sau đời những nắng sớm mưa trưa.
Mới đó mà sang thềm thế kỷ
Chân đi chân ở năm bản lề
Gió đưa khói pháo thềm sông núi
Ta đứa phiêu linh xa vời quê.
(Nhớ Cây Nêu Ngày Tết Xưa, 1999)
Hoàng Anh Tuấn
Anh nâng chén môi hoa đào ướt mọng
Uống cho vơi từng mực rượu lưu vong
Ðêm trừ tịch ngọn đèn khua giao động
Khi âm ba thôi huyền hoặc gối chăn.
(Yêu Em, 2004)
Huy Trâm
Mùa xuân đổi mới đang lên
Nhưng không đổi được sầu trên phận người.
(Mùa Xuân Với Em)
Trong các thi sĩ có thơ trích dẫn bên trên, tất cả đã tới Hoa Kỳ, Thanh Nam, Mai Thảo, Cao Tiêu, Hoàng Anh Tuấn, đã là người thiên cổ. Còn lại Mặc Ðỗ ở Austin Texas, Cung Trầm Tưởng ở Saint Paul Minnesota, Hà Huyền Chi ở Seattle, Hà Thúc Sinh ở Bắc Cali, Hồ Tuấn Nhã ở Seattle, Huy Trâm ở Quận Cam. Thơ Xuân hải ngoại sẽ tiếp tục với những tên tuổi khác trong những kỳ kế tiếp.



























































































