Nam Dao
Vun đám cỏ dại vào một bên, Trãi bật hồng thắp một bó nhang, xoay tay vung lên trời cho lửa tắt. Cắm vào chiếc bát hương phía mặt tiền ngôi mộ ông ngoại, Trãi vái ba vái, kéo áo the rồi quì cạnh Thị Lộ.
Trên cái án thư trước mặt hai người là tập Băng Hồ di sự lục do Lộ nắn nót chép từ bản thảo của Trãi. Sau khi trước tác Lam Sơn thực lục kể lại nguồn gốc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống Minh, chính Lộ đã thúc cho Trãi viết lại cái mảng sử thời Trần rồi thời Hồ, qua hai người gần gũi nhất là Trần Nguyên Đán, ông chàng, và Nguyễn Phi Khanh, cha chàng. Lùi khỏi thế cuộc, Trãi nay nhìn lại quá khứ với cặp mắt khách quan và chừng mực, hiểu cái qui luật thời thế và cảm thông cho những con người muốn xoay vần rồi rút cục bị nghiền nát dưới bánh xe lịch sử. Ông ngoại cuối đời bất lực, phải gả bán làm sui gia với họ Hồ, mục đích bảo vệ đám con đám cháu. Cha thì chân ướt chân ráo làm quan triều Hồ khi tóc đã bạc, chưa thi thố được gì đã phải đào vong rồi bị đầy đi biệt xứ, đến nay thân xác vẫn còn nằm dưới ba tấc đất quê người. Ngẫm đến mình, Trãi chạnh lòng, bùi ngùi nhìn xuống đám cỏ dại dưới chân. Như đoán được, Thị Lộ nắm lấy tay Trãi, se sẽ kéo vào lòng mình. Đánh tan cái không khí trầm mặc dễ khiến động lòng, Lộ hỏi:
– Đến lúc hóa vàng rồi nhỉ? Thầy giúp em…
Nhìn ngọn lửa cháy lém thếp giấy cong queo trong gió, Trãi buột miệng thở dài. Một kiếp người, là thế đấy ư? Nhìn xa, trông rộng, trên vai gánh vác trách nhiệm tể tướng một triều đại, ông ngoại chàng nay vùi dưới ba tấc đất kia. Và bất lực, cả khi sống cũng như lúc chết. Đám hậu duệ dòng dõi nhà Trần thất tán sau khi Trần Nguyên Hãn bị bức tử, nay đổi họ thay tên. Còn chàng, cháu ngoại, cũng về Côn Sơn này, bị gạt hẳn ra chốn thế quyền nay là một tập hợp bơ vơ đi tìm chỗ đứng, chao đảo hỏi mình là ai? Oái oăm thay, câu trả lời không cần thiết khi trước mặt có kẻ thù ngoại lai đối kháng. Nhưng lúc đã thu về một mối, quyền lực bỗng sững sờ, loay hoay tồn tại bằng cách tạo ra những kẻ thù giả tạo, đánh đấm cái bóng của chính mình trong những cơn thất thần mê hoảng. Và rồi, kết cục, chính những kẻ chiến thắng nhìn qua biên ải để bắt chước rập cái khuôn nhà Minh và trở thành chính những kẻ ngoại lai mình đánh đuổi. Dưới chiêu bài độc lập ốp vào như một niềm tin tôn giáo, và lòng yêu nước tưởng tự nhiên đến độ không ai có quyền tra vấn, họ nhắm mắt xông lên trong chiến tranh, bất chấp mọi hy sinh và đổ vỡ. Nhưng từ tro than để lại sau một cuộc chiến, những kẻ chiến thắng đã xây dựng được gì? Và đã làm gì, nhất là cho những người đã nằm xuống?
Thị Lộ như đoán ra, bĩu môi, giọng có chút hờn dỗi:
– Đấy, thầy lại vẩn vơ rồi. Quên đã hứa với em thế nào à?
Giọng giả vui, Trãi đáp:
– Nào, đâu có gì!
Nhìn vào đôi môi Lộ đỏ áy quết trầu, Trãi tiếp
– Quên thế nào được! Tự nhiên, thấy mủi lòng khi nhớ tới ông thôi…
– Thầy lại lỡm em! Thế tuần trăng trước, ai viết:
Bui một tấm lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng
nào?
Trãi đỏ mặt, ngượng ngùng. Giọng bỗng trầm xuống như một lời than vãn, Thị Lộ giả bâng quơ, nói:
– Thân đàn bà nhỏ nhoi. Còn giang sơn kia thì to rộng. Nhỏ, giữ được, làm vợ cho mình. Còn như to rộng, chẳng thuộc về ai… Có giữ chăng là cái ảo tưởng về mình mà thôi!
Buổi trưa hôm đó, hai người lên am Mây. Nhìn qua mỏm phía đông, mái chùa Tư Quốc, nơi quàn nhục cốt sư tổ đời thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, nhô lên khỏi chóp núi, chơ vơ trong những cơn gió đã chớm se sắt buổi đầu thu. Trãi rủ Lộ đến thắp hương, nhưng nàng lắc đầu, ngồi đợi.



























































































