Kỳ 95
Nam Dao
Khi bóng Trãi đã khuất sau dốc núi, Lộ đưa tay lên vờn bắt những đám mây bay ngang vai. Chụp vào trống không, Lộ hiểu cái nhìn thấy không lúc nào cũng nắm bắt được.
Nàng mỉm cười một mình. Thấm thoát, nàng đã cùng Trãi lên trên đỉnh Côn Sơn này ngót nghét một năm. Ngày ngày, nàng chép lại bản thảo Trãi viết, chữ tháo đến độ đôi khi chính Trãi đọc không ra. Không chỉ chép, nàng còn luận bàn, khi đồng ý, khi phản bác. Nhưng sống với một thiên tài, không dễ. Có những điểm Trãi bung ra bay bổng, phóng khoáng chấp nhận những điều đi ngược lại cái rào cản của những giá trị đã hằn vết trong tâm thức. Chẳng hạn như câu “Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử.” Trãi nhận vế đầu, nhưng lại coi vế sau như một thứ luân lý vô nhân, bảo “…nàng nghĩ xem! Chồng chết năm hai mươi, sống thêm hai ba mươi năm, phải nhịn hết để mà ‘tòng tử,’ trong khi con người là con người, có những đòi hỏi sinh lý tự nhiên… Càng kìm hãm, càng ép buộc, càng đưa con người đến dối trá lọc lừa.” Nhưng quái thay, ngược lại, cũng có những luận điểm Trãi co cụm bảo thủ. Chẳng hạn “Quân, thần, phụ, tử” là cái hệ thứ bậc nói thế nào Trãi cũng một mực bíu vào. Lộ chì chiết việc Lê Lợi giết Hãn và hạ ngục Trãi. Buột miệng, Trãi đáp:
Vua Nghiêu-Thuấn, dân Nghiêu-Thuấn.
Dường ấy lòng ta đà phỉ nguyền
Lộ nhẹ nhàng bảo, cái thời Ðường, Ngu đó là ảo tưởng. Vua hiền, dân lương đến mức thấy vật rơi không lấy, cửa nhà không cài mà chẳng lo, là chuyện đời trước bịa ra. Trãi mím miệng không đáp, lẳng lặng cúi xuống những trang sách dở dang. Ðó là cách Trãi đầu hàng trong im lặng.
***
Trãi quay lại tìm Lộ lúc nắng bắt đầu ngả. Nép vào vai chồng, Lộ nắm tay, nũng nịu “…thầy bỏ em một mình, không sợ quỉ kêu ma bắt em à!”
Buổi tối hôm đó, Lộ gội đầu. Ðơm củi vào bếp, mùi hương thông thơm lừng căn nhà ba gian lặng lẽ dưới ánh trăng vằng vặc. Lộ tiếp cho Trãi ăn, như một người mẹ, một người chị. Rồi Lộ rót rượu, bảo:
– Thầy ơi, lẽ ra thầy chỉ nên là một nhà thơ!
Ghì Lộ vào lòng, Trãi hít mùi bồ kết trong tóc, khẽ ngâm nga, “Cổ nhân bỉnh chúc dạ du, hương hữu dĩ dã,” lời nhà thơ Lý Bạch ý bảo người xưa cầm đuốc chơi đêm là biết sống.
– Thầy làm cho em một câu bằng tiếng Nôm ta đi…
Ngẫm nghĩ, Trãi đọc:
Cầm đuốc chơi đêm, câu người dặn
Tiếng chuông chưa gióng, ắt còn xuân
Cười khúc khích, Lộ chúi mặt vào lòng Trãi, bảo:
– Ðêm nay tròn trăng đấy!
Ðêm đó, Trãi đổ ra cho Lộ tất cả cái sinh lực đàn ông, nhận lại từ Lộ nỗi đam mê đồng thiếp của một cơ thể căng ra chín mùi, bần bật sự sống đến như bão táp với những làn sóng của cơn địa chấn thịt da. Lộ rên rỉ, “Giời ơi là giời! Em chết mất!”
Ðó là tiếng kêu hoan lạc Trãi đã nghe trong giấc mơ đi với Xuyến đến một cái sân đình trai gái từng cặp quấn quít lấy nhau, thuở chàng còn ngậm lời ở trại chè ven sông Lam. Chàng hiểu, như chuyện hiển nhiên, chết được trong niềm hoan lạc là điều vô cùng hạnh phúc.
Sáng sớm sau, Trãi thức giấc thì Lộ không còn bên cạnh. Trên án thư, một tờ giấy hoa tiên có dăm chữ viết vội, và cả thế gian bỗng loãng ra, trống vắng đến mênh mông. Trãi ôm đầu, miệng bật lên “Lộ em ơi, tại sao vậy?” Trãi lẩm bẩm hỏi đi hỏi lại một câu hai ngày liền, không ăn không ngủ, thậm chí không còn biết đến gì ngoài cái tê điếng của một sự mất mát chẳng có chi đền bù được. Chàng ngồi yên một chỗ, bất động như tượng tạc bằng đá nham cương, trơ trọi trên đỉnh Côn Sơn mây phủ, thỉnh thoảng chỉ đâu đó có dăm tiếng chim lạc đàn. Sống hay chết đây? Không, phải tìm, có thể là đi lại từ bước đầu, thực chứng sự có mặt của mình. Nó chính là sự ràng buộc của mỗi người vào cuộc đời qua tình yêu, điều duy nhất mang toàn vẹn ý nghĩa của sự sống. Quơ tay lấy con dao quắm, Trãi giơ lên nhìn, ngẫm nghĩ rồi nghiến răng đâm vào đùi. Máu ứa ra nhỏ ra thành giọt rơi xuống nền nhà. Nỗi đau cắt da khiến chàng bừng tỉnh. Chàng đứng dậy khập khiễng lê bước ra nhìn xuống phía dưới đồng bằng. Không có Lộ, chàng chẳng còn chút gì ràng buộc với cái đỉnh Côn Sơn chơ vơ này.



























































































