Du Tử Lê
1. Thịt, xương nào có trong đời kiếp âm nhạc Trần Duy Đức?
Gần đây, một số nhà ngôn ngữ học cho rằng, ngôn ngữ của một dân tộc, không chỉ làm thành sắc tố tâm tình của dân tộc ấy, (mà,) nó còn làm thành những nét đặc thù thể hiện trong lãnh vực văn học và nghệ thuật nữa.

Nhạc sĩ Trần Duy Đức (phải) và ca sĩ Khánh Ly. (Hình: Hoàng Khai Nhan)
Vẫn theo nghiên cứu của những nhà ngữ học này thì, những dân tộc có loại ngôn ngữ phải phát âm trong miệng, với những đòi hỏi của nhu cầu đánh lưỡi, hay uốn cong lưỡi, là những dân tộc phát triển mạnh mẽ về bộ môn hội họa và điêu khắc. Nói rõ hơn, hội họa hay điêu khắc không là lãnh vực chỉ dành riêng cho một thiểu số, cho những người có khả năng đặc biệt về lãnh vực đó.
Trong khi những dân tộc có loại ngôn ngữ đơn giản hơn trong cách phát âm thường dễ dàng phát triển về âm nhạc. Điều này, cũng có nghĩa, không cần phải là nhạc sĩ hay, ca sĩ, một người bình thường cũng có thể cất tiếng hát một cách dễ dàng, dù không được tập tành, đào luyện từ trường ốc.
Ghi nhận kia, có thể không đúng cho ngôn ngữ của từng dân tộc, nhưng riêng với ngôn ngữ Việt Nam, nhận định đó, nhiều phần ứng hợp.
Chẳng hạn khi nói về thơ, (dường chỉ ngôn ngữ Việt Nam mới có từ đôi: thi-ca,) là hát thơ hay, thơ và nhạc là một cặp, bất phân ly.
Phải chăng, vì trong thơ có sẵn nhạc nên, ngay tự thuở bình minh của nền Tân Nhạc Việt, các nhạc sĩ tân nhạc tiên phong của chúng ta, cũng đã tìm tới thơ, cho thơ hơi thở của các hợp âm trên thang nhạc thất cung Tây phương, hoặc ngũ cung Việt Nam.
Tôi luôn có liên tưởng mạnh mẽ rằng, sự kiện các nhạc sĩ đi tìm cho họ một cuộc hôn phối tốt đẹp với thơ, cũng hệt như các nhà thơ Việt Nam, chí ít, cũng một đôi lần tìm đến với thể thơ lục bát vậy.
Khác nhau chăng, rất nhiều nhạc sĩ thành công và, thành danh nhờ những cuộc hôn phối thi, ca đó. Trong khi ngược lại, rất ít nhà thơ có được cái dung nhan rạng ngời của lục bát.
Nhìn lại, người ta thấy rằng, tuồng “Ngậm Ngùi” của Huy Cận, đã mang thêm hào quang về cho Phạm Duy, khi Phạm Duy tìm tới “Ngậm Ngùi.” Dương Thiệu Tước, tuồng mênh mang, bảng lảng hơn, khi ông đến với “Chiều” của Hồ Dzếnh…
Đặt biệt “Người Đi Qua Đời Tôi,” thơ Trần Dạ Từ, nhạc Phạm Đình Chương, bên cạnh những sáng tác khác của họ Phạm, giới thưởng ngoạn thêm trầm trồ, ngợi ca tài hoa của họ Phạm.
Nhưng, những nhạc sĩ vừa kể, khởi tự đầu nguồn, hay hiện diện hôm nay, tất cả đều chỉ tìm đến với thơ, như một bóng mát, một dòng suối hương thơm, trong hành trình âm nhạc của họ…
Người ở với thơ, người kiên trì, miệt mài trong nỗ lực cân bằng vế thứ hai của danh từ kép Thi-Ca trong ngôn ngữ Việt Nam, phải kể tới Trần Duy Đức.
Trần Duy Đức tìm đến với âm nhạc khi còn rất trẻ. Họ Trần đã thành công rất sớm, khi chưa được hai mươi, với những ca khúc mang tính quân hành hoặc, hùng ca…
Nhưng, khác hơn những nhạc sĩ cùng trường hợp, Trần Duy Đức không ở lại với những tựu thành này. Họ Trần muốn đi tới những chân trời mà, điểm gặp cũng là chỗ giao thao giữa thơ và nhạc. Họ Trần muốn đi tới phần ngọn nguồn tinh ròng hay, thẳm cùng đáy sâu thử thách. Nơi những rung động cảm thức không chia hai. Chỉ là một. Sự là-một, rốt ráo của thi-ca vốn chưa từng phân, ly. Chưa từng ngăn cách.
Hôm nay, giữa quê người, ở tuổi ngoài sáu mươi, với hơn hai mươi năm ăn ở thủy chung với thi-ca, chân dung âm nhạc của họ Trần, là chân dung thi-ca. Diện mạo đó, không phải là diện mạo song sinh của hai giọt nước, hai cõi đời văn chương và nghệ thuật – – (Mà,) nó đã là một. Một định hình, duy nhất. Một thịt xương, trộn lẫn, duy nhất.
Chính tính bất khả phân kia, nơi đời kiếp âm nhạc mang tên Trần Duy Đức, đã làm thành một Trần Duy Đức, riêng. Rất riêng. (1)
(Còn tiếp một kỳ)
Chú thích.
(1) Trong một bài viết về Trần Duy Đức, nhà thơ Phan Tấn Hải lược ghi tiểu sử họ Trần như sau:
“…Năm 10 tuổi, Trần Duy Đức đã biết đệm đàn cho các chị trong xóm hát. Năm 16 tuổi, anh đã soạn ca khúc. Đam mê âm nhạc như thế, nhưng ở Việt Nam lại không có cơ hội học nhạc. Chỉ tới khi sang Hoa Kỳ, Trần Duy Đức mới ghi danh học các lớp sáng tác ca khúc tại các trường college. Trần Duy Đức kể rằng, cơ duyên học sáng tác nhạc đã cho anh gặp một số bạn âm nhạc. Một bạn học cùng lớp là nhạc sĩ Hoàng Khai Nhan, người có nhiều bản tình ca nổi tiếng và cũng là một nhiếp ảnh gia xuất sắc. Cũng chính Hoàng Khai Nhan đã chụp các tấm ảnh để sử dụng cho bích chương của ‘Đêm Nhạc Thính Phòng Trần Duy Đức … Bằng Hữu.’ Và cũng chính Hoàng Khai Nhan là người thiết kế tấm bích chương cho đêm nhạc. Trần Duy Đức đã đưa cho tôi xem các cuốn sách giáo khoa về sáng tác ca khúc, trong đó có một cuốn sách tên là ‘Music Notation’ (Văn Phạm Viết Nhạc) của Mark McGrain, trong đó, theo lời Đức, là để viết nhạc theo quy ước quốc tế, để nước nào nhìn vào bản nhạc cũng hiểu. Màu giấy đã ố vàng, mép giấy đã cong… nhưng anh vẫn giữ bên cạnh nhiều cuốn khác để nhớ một thời học nhạc. ‘Trần Duy Đức kể rằng, anh may mắn được học nhạc tại Hoa Kỳ. Trong đó có những lớp rất gay go, như mỗi lần làm bài quiz thường lệ, thầy giáo đưa ra một bài thơ ngắn, và các sinh viên phải ngay tại chỗ phổ nhạc bài thơ này – tùy theo thể nhạc mà thầy giáo yêu cầu. Thí dụ, một bài thơ về cảnh đời sống nông thôn Mỹ, thì phải phổ thành một ca khúc theo thể nhạc country music – ngay trong lớp, không cần đàn, mà phải viết ngay xuống giấy cho ra bản nhạc’…” (Trích Việt Báo, tháng 8 năm 2011)



























































































