Tiếng cổ cầm Koto nào, có trong cõi nhạc Trần Duy Đức? (Tiếp theo và hết)


Du Tử Lê


Không ồn ào, không lăng xăng, không tổ chức thành nhóm, không lên tiếng, không tự mặc khoác lấy cho mình một danh xưng to lớn, rổn rảng nào… Trần Duy Đức, khép kín đời sống của anh, trong công việc, bổn phận gia đình, và một số rất giới hạn, anh em, bằng hữu.

Thế giới của Trần Duy Đức, mỗi buổi chiều, trở về là căn phòng buông rèm, tối bưng hay kín mít. Ở đó, những dòng nhạc mang đầy cá tính, đầy nhân dáng Trần Duy Đức, được tấu lên, nghe lại, rồi xé bỏ hay sửa chữa. Ở đó, trong căn phòng nhỏ, kín bưng ấy, dòng nhạc Trần Duy Đức, thánh thót vang lên. Nó mang lại cho anh, một thời trẻ tuổi đã qua.





Nhạc sĩ Trần Duy Đức. (Hình Hoàng Khai Nhan)



Ở đó ấy, trong căn phòng kín bưng, nó mang lại cho kí ức chưa già nua, nhưng đã đủ muộn phiền, đủ thương đau mất mát của anh, tiếng kèn đám ma, những ngày thơ ấu. Tiếng võng ru, tiếng hò khoan trên sông. Những ngày niên thiếu và, tiếng kèn, trống vẳng đưa từ rừng sâu, lăn xuôi trên triền dốc núi, đồi, những năm tháng Pleiku, xô đẩy dịu dàng hay cuộn cuồng mãnh liệt như những tia sáng tím chạy qua những tế bào óc, ngăn cất chứa kí ức của anh.

Ở đó, trong căn phòng kín mít ấy, “Khúc Mưa Sầu,” nhạc phẩm đầu tay, họ Trần viết từ những năm thiếu thời, đã được không dưới năm nữ ca sĩ mà tên tuổi của họ, gắn liền với từng giai đoạn của đời sống, đã chọn hát, chọn làm chủ đề cho băng nhạc của họ. Những luyến láy, như những bậc cao nức nở vỡ tan, lần lần trên những nấc thang đi lên cõi hoang lạnh, được nghe lại bằng đôi tai hôm nay, đôi tai của một tài năng âm nhạc chín muồi.


“Ta về đâu?
ngày qua ngày mãi lao đao
phù du một thoáng hư hao
nằm nghe ngày rớt đêm sâu
tình ơi thân phận hồn thâu…”


Tiếng cổ cầm Koto của người Phù Tang thời dựng nước vuốt theo từng nốt nhạc Trần Duy Đức, như sóng bạc đầu trên âm hưởng quần đảo, nghìn xưa.

Nhà thơ Phạm Công Thiện, có lần kể, một đạo sĩ Mỹ, bạn anh, từ Tây Tạng trở về, gặp Trần Duy Đức, đã buột miệng tiết lộ với anh rằng tiền kiếp Trần Duy Đức vốn là đạo sĩ của dòng tu khổ hạnh ở Kyoto. Dòng tu lâu đời nhất của xứ Thần Mặt Trời, tới nay, vẫn còn trên những đỉnh núi tuyết. Lời tiết lộ có khả năng làm gợn lên những chấm gai da thịt, nhưng vẫn không mang lại một giải thích thỏa đáng nào cho những tế bào âm nhạc khua thức trái tim Trần Duy Đức.

Âm nhạc, với Trần Duy Đức, là chiếc bóng đã bầu bạn, đã ở cùng anh, những năm lên năm, lên sáu. Âm nhạc, với Trần Duy Đức, là thực phẩm vô hình nuôi anh lớn, tháp thêm cho anh đôi cánh mộng ảo, đem anh vào đời.

Âm nhạc, với Trần Duy Đức, cuối cùng là một sân chơi hiu quạnh, là một căn hầm ẩn nấp kiên cố nhất cho những cảm thức thất lạc nhân sinh, vong thân bản ngã.

Âm nhạc, như thế đó, đã đến như một người tình buồn thảm, xõa tóc đi dọc hành trình về hư không với Trần Duy Đức…

“Rồi em bỏ tôi đi trong một buổi sáng – Sài Gòn đầy lá – hay em bỏ tôi đi trong một chiều nắng ăn lốm đốm da em – rừng đã thổi sương theo – ôi cuộc tình hoang mang rất vội – hoang mang rất vội – qua những miền hư hao – tôi ngồi nghe gió nổi – Khi em bỏ tôi đi – có nghe lòng trống trải – có nghe rừng gió mãi – khi em bỏ tôi đi – em bỏ tôi đi…”

Đó là nét nhạc vút cao để vỡ vụn trên đỉnh trời nát tan của Trần Duy Đức, qua tiếng hát của Lệ Thu, Khánh Ly, rồi Trần Thái Hòa. Nhạc phẩm, đã được dùng như chủ đề chính cho băng nhạc, cho tiếng hát Hải Lý, những năm giữa thập niên 80.

Đó là Trần Duy Đức, năm hai mươi tuổi. Trần Duy Đức nằm trên dốc đèo Cù Hanh, ở đáy đường Trình Minh Thế. Nhạc Trần Duy Đức buốt giá. Nhạc Trần Duy Đức mang những lát dao bén ngót, lẻm sắc, khoắng sâu tiềm thức ta, ký ức mờ hồ ta. Nhạc Trần Duy Đức, mang những ngọn đuốc, thắp sáng nỗi niềm mất mát, đọa lạc ta, ở những phần khuya lắng nhất.


Đời Mãi Ở Phương Đông


bây giờ, ta đã già và người vẫn mãi xa
như núi sớm hao gầy và dòng sông sắp cạn
bây giờ mùa mưa luôn thánh thót vườn đời ta
không cứ gì phải đúng ngày đúng tháng
và những con nước kia
còn vỗ hoài hai bên bờ tâm hồn ta sỏi đá
bây giờ đã muộn cho chúng ta
trả lại nhau tâm hồn và đời sống
khổ ải đã như rừng
ta cố công mở lối


bây giờ, ta đã già và, người vẫn mãi xa
như con thú đã bạt khỏi ngàn
chạy cuồng về phía biển
nơi những dấu chân quen
(có chút gì tội nghiệp)
đó chính là những lời hát
rớt xuống từ đôi mắt của người lãng du
trong một quay đi
không phải là trở về
bởi chúng ta chưa có một mái nhà để, xưa
ôi những móng tư thù
ngập vó đời bầm giập
ta đi qua nửa đời
vẫn hoài trông trở lại
dấu vết là môi người
vẫn còn thơm ngát mãi
và cuộc tình thiêng liêng
ủ trong tim vô nhiễm


bây giờ, ta đã già và người vẫn mãi xa
phải chăng chúa không thể ở gần
sự có mặt nhiệm màu
chỉ thực sự hiện hình nơi cõi đến
và, người giết lần ta
bằng thả trôi tình trong nín lặng
cây vàng im bóng trưa
ta cúi đầu tủi hổ
cay đắng đã như sông
cách gì ta lấp được
ôi giờ ta đã già
người đòi chi cuối kiếp
chân chưa thể bước qua
sợi dây người oan nghiệt (2)
.


Trái tim ta, con sông thời gian chua xót không lằn ranh. Trái tim ta, những hàng cây thương nhớ vẫn mọc. Vẫn mọc. Vẫn lớn. Ngay khi đời ta không còn nữa. Hay đời nhạc Trần Duy Đức, là một dòng sông?
Hay đời nhạc Trần Duy Đức, là những ngọn cây, vật vã trên tầng cao, gió bão?
Định mệnh nào đã tháp xương máu cho đời nhạc Trần Duy Đức?
Khổ đau nào đã thắp sáng phần thịt da ấm áp mà ngất đắm trong trái tim âm nhạc Trần Duy Đức?
Không biết. Không một ai biết. Ngay chàng. Ngay người họ Trần. Ngay nhạc sĩ. Chỉ biết. Định mệnh kia, đã là một định mệnh cộng hưởng. Định mệnh của một tiếng thơ. Một dòng nhạc. Định mệnh ở phương đông. “Đời Mãi Ở Phương Đông.” Phương Đông, nơi trái tim tình yêu chân thiết lầm than ta, sẽ ở. Như giai điệu của chàng ở với “Dòng suối trăm năm”:


chẻ đôi sông núi : đêm bưng mặt – –
mưa quấn khăn vào sâu ấu thơ /.
chẻ đôi thân thế : mù tăm tích /.
ta nghĩa trang nào? chôn, cất nhau !?


chẻ đôi tâm thất : kênh, mương cạn – –
hương tóc truy tầm vai thất tung /.
tưởng ai oan khuất vừa quay gót !
xương, thịt, đời sau, máu rất buồn /.


chẻ đôi con gió : cây ly, biệt – –
tim chấn thương cùng môi tháng, năm /.
phạt ngang ký ức rừng, thao thiết – –
dòng suối trăm năm bỗng mất nguồn.


Du Tử Lê,
(California 10, 2003)




Chú thích

(2) Bài thơ này tác giả viết tại thành phố Đà Lạt, năm 1972, khi cuộc chiến ở miền Nam đã lan tràn khắp nơi. Khi con số những gia đình có người chết gia tăng ở một mức độ choáng váng. Khi những người yêu nhau không biết cuộc tình và, chính bản thân họ sẽ ra về đâu sống / chết ra sao, thế nào? Bài thơ như một bài hát ru hay những lời trấn an người tình, trấn an chính mình, của tác giả – về bước đến cuối cùng của định mệnh bất hạnh. Trường hợp nào thì phương đông hay Việt Nam, vẫn là nơi chúng ta sinh ra và, cũng chọn lựa trở về, cuối chót. Bài thơ ra đời được độc giả, nhất là những người trẻ của Việt Nam thời gian đó đón nhận, như đón nhận một vành khăn tang của nỗi tuyệt vọng tới sớm, cùng lúc với nhang khói của niềm an ủi giữa sông, núi quê nhà. Nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ thành ca khúc bài thơ này, cũng trong năm 1972, khi ông đang làm “lính thú” trấn thủ Pleiku – – Khi giữa nhà thơ và nhạc sĩ hoàn toàn không biết gì về nhau, ngoài tâm cảm…” (Trích Web site dutule.com)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT