Nam Dao
Thình lình, Nguyên Long rút con dao ra, đăm đăm nhìn bốn con hổ chầu quanh con rồng vẩy sắc chạm trên cột. Nay, người ta đã lấy giấy bồi vào những con mắt hổ bị Long lấy dao khoét khi còn phải dựa cột nghe chính sự.
Dưới ánh sáng hắt hiu chập chờn, mắt Long tóe lửa. Tay cầm dao đâm vào bụng con hổ đưa hai chân trước chồm lên, Long thình lình cất tiếng cười.
Cứ thế, Long cười ằng ặc, thở phì phò, rồi lại cười.
Đột nhiên, Long hỏi, vẫn câu hỏi đi hỏi lại Nguyễn Trãi:
– Nước ta xưa nay có anh quân không?
Lộ im lặng. Long hỏi thêm một lần rồi tiếp, giọng ai oán:
– Cứ làm vua là phải giết người à?
Nói xong, Long lại bật khóc rưng rức. Nhìn búi tóc xõa xuống đến vai rung lên bần bật, Lộ bỗng xót xa. Nàng khẽ để tay lên vuốt tóc cho Long, nhưng Long đẩy tay Lộ ra, kêu lên:
– Chị ơi! Quả nhân khổ lắm!
Lộ nâng mặt Long lên, buột miệng:
– Nín đi! Hoàng thượng không phải là trẻ con nữa!
Khuôn mặt Long dẫu đẫm nước mắt nhưng vẫn là khuôn mặt một đứa trẻ mười lăm. Long thều thào:
– Đúng, chị nói đúng…
Lát sau, trong sâu lắng vô âm vô ảnh, Lộ nghe:
– Đã giết người như thế, là trẻ con thế nào được!
Trong bóng tối cung đình, Lộ hoang mang, tự hỏi mẹ một kẻ giết người liệu có thể thương được con mình không. Dù muốn, nhưng nàng hiếm muộn, đến nay vẫn chẳng cho Trãi được một mụn con. Lần đầu tiên, Lộ thầm nhủ, con dại cái mang, lòng bỗng quặn lại như xát muối. Đúng lúc đó, nàng cảm thấy lành lạnh sau gáy. Quay lại, hình như có bóng ai áo trắng vụt xa, mờ dần, nhưng để lại dư âm nghe tựa tiếng cười trong vắt của những mảnh gương vỡ.
Trời Thấp
Chưa hết năm Đinh Tỵ, sóng gió sau vụ án Lê Sát vẫn còn. Những cơn bão rớt thỉnh thoảng sập về úp lên Đông Đô mưa gió đánh nhịp cho những biến động trong cung đình. Thời gian bọn văn quan đang bàn cách qui định triều nghi lễ phục cho vị Hoàng Đế tuổi mới mười lăm, các vị đại thần cố mệnh, vốn xuất thân nơi thôn dã, rước những thuật sĩ về tư dinh trấn yểm và lập đàn cúng kiếng.
Hiện nay, nỗi bận tâm lớn nhất của quan Đại Tư không Lê Ngân là làm thế nào cho con gái mình mang được dòng máu Đế Vương vào bụng. Năm con rắn quả là năm độc. Ngân lại không hề biết mình cũng là một trong bốn con hổ khắc trên cái cột gỗ lim trong điện Hội Anh, dẫu bụng chưa bị đâm nhưng mắt đã chọc cho mù. Bàn với Lê Cảnh Xước phụ trách Nội Mật viện, Nguyên Long khôn khéo nói ý thế nào mà có kẻ tố cáo là Ngân lập bàn thờ Phật trong nhà, lại nhờ tay đạo sĩ họ Trần và Nguyễn-thị, vợ lẽ của Sát bị Ngân cướp về khi Sát chết, đang làm bùa yêu cho Huệ phi Nhật Lệ. Vị vua trẻ tuổi sai khám nhà bố vợ, thừa dịp định trừ nốt một kẻ làm vướng chân mình. Chính Xước hặc tội Ngân, đòi giao cho Thẩm hình viện tra hỏi. Lê Ngân rập đầu, ngước mắt nhìn Long cầu cứu. Long lạnh lùng:
– Nước có phép nước, Đại thần lại càng phải giữ! Cứ chiếu pháp mà theo!
Hành Khiển Nguyễn Trãi nhìn Ngân mặt mũi thất sắc, động lòng, vòng tay tâu:
– Thời tiên triều, cũng như các đời trước, quả là có hạn chế sư sãi, sát hạch Kinh, Sách đuổi những kẻ mạo danh đi tu để trốn lao dịch và bài trừ thói mê tín tà ma làm nhiễu nhũng hàng dân bằng tế lễ dị đoan. Tâu bệ hạ, thế không có nghĩa là cấm đạo và thờ cúng Đức Thế Tôn…
Hoạn quan Lương Đăng đứng dậy ngắt:
– Tâu bệ hạ, thờ Phật thì có chùa, mang về tư gia mà thờ tất có gì không minh bạch. Còn việc làm bùa yêu cho Huệ phi không gọi là trò mê tín dị đoan thì gọi là gì?
Long nghếch mắt nhìn lên, không nói một lời. Nhìn dáng điệu dửng dưng của vị thiếu đế cách đây không lâu đã hành quyết Sát chẳng nương tay, Ngân lạnh người, chợt hiểu thân phận mình. Ngân trút mũ, mếu máo tâu:
– Trước kia thần theo khởi nghĩa ở Lam Sơn, khổ cực chiến trường nên hiện thần nhiều bệnh. Thầy bói bảo chỗ nhà thần ở trước có bàn thờ Phật nay vì để ô uế nên sẽ có tai họa. Vì thế, thần cho dọn dẹp lại! Tiên đế biết rõ lòng thần, thường vẫn ưu ái bao dung. Bây giờ gân sức của thần đã mỏi mệt lắm rồi, xin cho được về quê để sống nốt tuổi tàn còn lại, bệ hạ nghĩ lại thương thần.



























































































