(Trích trong bài “Tiếp Bước Những Anh Hùng Của QLVNCH Trên Mặt Trận Mới” của Trúc Giang MN được phổ biến trên Internet)
Trúc Giang MN
Ngày 30 tháng 4 là dịp để chúng ta tưởng niệm và vinh danh các anh hùng, tử sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã nêu cao tinh thần chiến đấu chống kẻ thù đến hơi thở cuối cùng. Nhất định không sống dưới chế độ độc tài Cộng Sản.
Những anh hùng vô danh của Quân Lực VNCH được nhắc nhở đến với tinh thần “anh hùng tử, khí hùng nào tử” (Người anh hùng chết nhưng chí khí anh hùng không chết). Các vị tướng lãnh đã tuẫn tiết được nhớ đến như “sinh vi tướng, tử vi thần” (Sống làm tướng, chết thành thần).
Tưởng niệm, vinh danh những anh đã vị quốc vong thân không gì bằng tiếp bước cái ý chí của họ trong cuộc chiến mới. Đó là đấu tranh thiết lập dân chủ, tự do cho đồng bào Việt Nam trong cả nước. Mang những quyền tự do căn bản được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) được Đại Hội Đồng LHQ thông qua ngày 10 tháng 12, 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp.
Đảng Cộng Sản Việt Nam không xứng đáng lãnh đạo đất nước vì đảng tham nhũng, nhất là thái độ hèn với giặc, ác với dân, nhưng tội nặng nhất là truyền thống bán nước của đảng, từ Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Văn Linh-Đỗ Mười, đến Lê Khả Phiêu và sau đó là Lê Đức Anh, đã dâng những đảo ở Trường Sa cho Trung Cộng.
Tội lớn nhất là đưa cả dân tộc Việt Nam vào chế độ độc tài, tàn bạo Cộng Sản, đã bị kết án về tội diệt chủng và tội chống loài người, một chế độ đã bị lịch sử ném vào sọt rác của nhân loại.
Tấm gương hy sinh của những anh hùng trong Quân Lực VNCH là ngọn đuốc soi sáng để người Việt Nam yêu nước nối bước trong cuộc đấu tranh mới là xây dựng dân chủ, tự do và nhân quyền cho đồng bào trong nước.
Cuộc đấu tranh mới trên hai mặt trận. Với Việt Cộng trong nước và với cái đám tay sai bợ đít nâng bi Việt Cộng, thực hiện tuyên truyền và đánh phá các đoàn thể đấu tranh ở hải ngoại.
Thà chết chớ không chịu đầu hàng, không sống chung với Cộng Sản
1. Đại Úy Phan Hữu Cương
Đại Úy Phan Hữu Cương, thà chết chứ không chịu sống chung với kẻ thù.
Đêm 1 tháng 5, 1975, Đại Úy Phan Hữu Cương cùng vợ là Trung Úy Nữ Quân Nhân Trần Mai Hương uống thuốc độc tử tử.
Bà Phan Cẩm Anh, bạn của Trung Úy Mai Hương cho biết, cặp vợ chồng này cùng tự tử vào buổi tối ngày 1 tháng 5, 1975, nhưng sáng hôm sau Trung Úy Mai Hương được cứu sống. Đó là do người cháu phát hiện và đưa đi cấp cứu. Các bác sĩ đã nỗ lực dành sự sống mong manh trong cái chết.
Người bạn của Đại Úy Phan Hữu Cương là Đại Úy Nguyễn Văn Nhựt, tùy viên của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương thuật lại, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì anh Cương đến gặp tôi và nói, “Hôm nay còn được gặp nhau, hãy cùng uống với nhau một vài ly cuối cùng. Ngày mai sẽ không còn có dịp gặp mặt nhau nữa vì tôi không còn ở trên cõi đời này.”
Bảy năm sau, bà Trần Mai Hương đã mang ba đứa con trai vượt biên và được định cư ở Hoa Kỳ.
Bà hy sinh cả cuộc đời còn lại, vất vả nuôi con, tất cả đều lớn khôn và thành đạt.
Mấy chục năm sau. Một trong những người con của Đại Úy Cương quyết định trở về quê hương để tìm lại hình ảnh của người cha đã tuẫn tiết khi anh vừa tròn 16 tháng tuổi. Anh phải về vì chỉ có bà nội anh mới biết phần mộ của cha anh ở đâu mà thôi.
Anh trang trọng giữ lấy những hình ảnh của cha mẹ trong ngày cưới.
Về phần mộ, bà nội anh cho biết đã an táng tại một nghĩa trang ở Sài Gòn, nhưng sau đó Việt Cộng san bằng nghĩa trang nên người nhà đem hài cốt đi hỏa thiêu và tro cốt đặt tại một ngôi chùa. Và sau đó đem ra rải trên dòng nước của Sông Đồng Nai.
Người con của Đại Úy Cương là nhà báo Phan Trần Hiếu, ký giả của tờ The Orange County Register, Nam California.
Nhiều bài báo nói về người cha của anh đã được quảng bá trong độc giả, nhưng nói chung Đại Úy Phan Hữu Cương là một anh hùng vô danh, đã tự chọn cái chết, quyết không đầu hàng, không sống chung với kẻ thù.
2. Trung Tá Nguyễn Văn Long
“Máu của Trung Tá Nguyễn Văn Long đã thấm xuống lòng đất mẹ”
Tổng hợp những thông tin về cái chết của Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long.
a/ Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Nhiều quân nhân lột bỏ quân phục, súng ống…Trung Tá Nguyễn Văn Long vẫn giữ nguyên quân phục, huy hiệu cảnh sát và bản tên trước ngực với khẩu súng Colt 45.
Một nhân chứng kể lại. Người ta không biết ông từ đâu đến. Ông xuất hiện ở công trường Lam Sơn, dưới tượng đài Thủy Quân Lục Chiến trước tòa nhà Hạ Viện. Ông ngồi trên ghế đá, trầm ngâm hút thuốc. Hai tay ôm lấy đầu. Bất chợt ông đứng dậy tiến đến gần tượng đài, nằm xuống ngay ngắn, kê họng súng colt vào thái dương, bóp cò.
Máu của Trung Tá Long thấm xuống lòng đất mẹ.
Dân chúng bu lại xem. Phóng viên truyền hình Pháp quay cảnh này rất kỹ. Trung Tá Nguyễn Văn Long tuẫn tiết trong quân phục, cấp bậc, huy hiệu cảnh sát và tên Long trên ngực. Không biết ai đã đưa xác ông vào bệnh viện Grall (Đồn Đất) của người Pháp. Có thể do phóng viên truyền hình người Pháp đưa vào.
b/ Con nhận xác cha
Theo lời thuật của cô Tâm, con gái thứ ba của Trung Tá Long, thì hai tuần lễ sau, bà Long ở Đà Nẵng nhận được giấy báo của bệnh viện Đồn Đất, gọi vào nhận xác chồng.
Cô Tâm cùng chồng vào Sài Gòn nhận xác cha. Cô cho biết, trong túi áo của cha có thẻ căn cước ghi địa chỉ ở số 37 đường Nguyễn Thị Giang, Đà Nẵng.
Ngày 17 tháng 5, 1975, cô Tâm và người chị thứ hai tên Đào và người em gái tên Thuận, đang làm việc ở Sài Gòn, vào bệnh viện nhận xác cha.
c/ Bệnh viện Grall giữ xác anh hùng
Cô Tâm cho biết, có lẽ nhận được lệnh của ban giám đốc cho nên nhân viên bệnh viện dành mọi dự dễ dàng và đặc biệt giúp đỡ gia đình. Nhân viên phụ trách mở ngăn lạnh, xác vẫn còn nguyên vẹn với quân phục, cấp bậc, huy hiệu cảnh sát và tên đầy đủ.
Nhân viên cho biết, thi hài của người anh hùng phải bảo quản cho tốt chờ thân nhân. Phải giúp gia đình tẩm liệm và mai táng chu đáo. Họ tắm rửa, thoa thuốc, uốn nắn và chăm sóc thi thể một cách nhẹ nhàng, tử tế đến nỗi gia đình phải ngạc nhiên.
Ngày chôn cất, có ban hậu sự của bệnh viện với đồng phục và xe tang, nghiêm trang đưa đến mai táng ở nghĩa trang Giáo Xứ Công Giáo Bà Quẹo, với đầy đủ lễ nghi Công Giáo. Có linh mục đến làm phép xác. Tất cả đều miễn phí. Xác của những tướng Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai cũng được gia đình đưa vào bệnh viện Grall, Sài Gòn.
Ít năm sau, gia đình cải táng. Lần này thì khăn tang trắng khắp cả một vùng gồm đầy đủ: vợ, các con, các cháu. Xác được hỏa thiêu, tro cốt gởi vào nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đường Kỳ Đồng, Sài Gòn.
Cái chết của Trung Tá Nguyễn Văn Long được thế giới biết đến nhanh nhất thông qua truyền hình Pháp, trong khi người Sài Gòn ít ai hay biết.
Thế giới xúc động trước cái chết của người anh hùng “vị quốc vong thân.”
Bổ túc vào danh sách quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tuẫn tiết
Kể từ ngày 29 tháng 4, 1975 rất nhiều chiến sĩ từ binh sĩ, hạ sĩ, trung sĩ, xã trưởng, chuẩn úy đã bị giết trong những trận tử thủ hoặc tự sát. Họ là những anh hùng vô danh của Việt Nam Cộng Hòa.
Một cựu sinh viên sĩ quan khóa 3, 1973 Thủ Đức đã sưu tầm những tài liệu để lập một danh sách tạm thời như sau.
Danh sách quân nhân VNCH tuẫn tiết
1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú,
cựu tư lệnh Quân Đoàn II
30 tháng 4, 1975
2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam,
tư lệnh Quân Đoàn IV
30 tháng 4, 1975
3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng,
tư lệnh phó Quân Đoàn IV
30 tháng 4, 1975
4- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai,
tướng tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
30 tháng 4, 1975
5- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ,
tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh
30 tháng 4, 1975
6- Đại Tá Nguyễn Hữu Thông,
trung đoàn trưởng 42 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh – khóa 16 Đà Lạt.
31 tháng 3, 1975 tự sát tại Quy Nhơn
7- Đại Tá Lê Cầu,
trung đoàn trưởng 47 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh.
Tự sát ngày 10 tháng 3, 1975
8- Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn
(bào đệ của Trung Tướng Lê Nguyên Khang).
30 tháng 4, 1975
9- Thiếu Tá Không Quân Nguyễn Gia Tập,
đặc trách khu trục tại Bộ Tư Lệnh KQ.
Tự sát 30 tháng 4, 75 tại BTLKQ
10- Trung Tá Nguyễn Văn Long
CSQG
30 tháng 4, 1975 tự sát tại công trường Lam Sơn, Sài Gòn
11- Trung Tá Nguyễn Đình Chi
Phụ Tá Chánh sở 3 ANQĐ – Cục An Ninh Quân Đội.
Tự sát 30 tháng 4, 1975 tại Cục An Ninh
12- Trung Tá Phạm Đức Lợi,
phụ tá Trưởng Khối Không Ảnh P2/ Bộ TTM
30 tháng 4, 1975
13- Trung Tá Vũ Đình Duy,
trưởng Đoàn 66 Đà Lạt
30 tháng 4, 1975
14- Trung Tá Nguyễn Văn Hoàn,
trưởng Đoàn 67 Phòng 2 Bộ Tổng Tham mưu.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 1975
15- Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương,
Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang.
Tự sát ngày 28 tháng 4, 1975 cùng vợ, 2 con và cháu (bằng súng)
16- Thiếu Tá Đặng Sỹ Vĩnh,
trưởng Ban Binh Địa P2 Bộ TTM, sau biệt phái qua Cảnh Sát
30 tháng 4, 1975 tự sát cùng vợ và 7 con
17- Thiếu Tá Mã Thành Liên (Nghĩa),
tiểu đoàn trưởng 411ĐP, TK Bạc Liêu- khóa 10 Đà Lạt.
30 tháng 4, 1975 tự sát cùng vợ
18- Thiếu Tá Lương Bông,
phó ty An Ninh Quân Đội Cần Thơ- Phong Dinh.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 1975
19- Thiếu Tá Trần Thế Anh,
đơn vị 101.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 75
20- Đại Úy Vũ Khắc Cẩn,
Ban 3, Tiểu Khu Quảng Ngãi.
Tự sát 30 tháng 4, 1975
21- Đại Úy Tạ Hữu Di,
tiểu đoàn phó 211 Pháo Binh Chương Thiện.
Tự sát 30 tháng 4, 1975
22- Trung Úy CSQG Nguyễn Văn Cảnh,
trưởng cuộc Vân Đồn, Q.8.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 1975
23- Chuẩn Úy Đỗ Công Chính,
TĐ 12 Nhảy Dù.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 1975 tại cầu Phan Thanh Giản
24- Trung Sĩ Trần Minh Trần Minh,
gác Bộ Tổng Tham Mưu.
Tự Sát 30 tháng 4, 1975
25- Thiếu Tá Đỗ Văn Phát,
quận trưởng Thạnh Trị Ba Xuyên
1/5/1975
26- Thiếu Tá Nguyễn Văn Phúc,
tiểu đoàn trưởng, Tiểu Khu Hậu Nghĩa
29 tháng 4, 1975
27- Trung Tá Phạm Thế Phiệt
30 tháng 4, 1975
28- Trung Tá Nguyễn Xuân Trân,
Khóa 5 Thủ Đức, Ban Ước Tình Tình Báo P2 /Bộ TTM.
Tự sát ngày 1/5/75
29- Trung Tá Phạm Đức Lợi,
Phòng 2 Bộ TTM, khóa 5 Thủ Đức, học giả, nhà văn, thơ, soạn kịch…bút danh: Phạm Việt Châu, cựu giảng viên SNQĐ, trưởng phái đoàn VNCH thực hiện HĐ Paris tại Hà Nội.
Tự sát tại nhà riêng ngày 5 tháng 5, 1975
30- Đại Úy Nguyễn Văn Hựu,
trưởng Ban Văn Khố P2/Bộ TTM.
Tự sát sáng 30 tháng 4, 75 tại P2/Bộ TTM
31- Thiếu Úy Nguyễn Phụng,
CS đặc biệt,
30 tháng 4, 1975 tự sát tại Thanh Đa, Sài Gòn
32- Thiếu Úy Nhảy Dù Huỳnh Văn Thái,
khóa 5/69 Thủ Đức.
30 tháng 4, 1975 tự sát tập thể cùng 7 lính Nhảy Dù tại Ngã 6 Chợ Lớn.
33- Trung Úy Đặng Trần Vinh
(con của Thiếu Tá Đặng Sĩ Vinh), P2 BTTM.
Tự sát cùng vợ con 30 tháng 4, 1975
34- Trung Úy Nghiêm Viết Thảo,
An Ninh Quân Đội, khóa 1/70 Thủ Đức.
Tự sát 30 tháng 4, 1975 tại Kiến Hòa
35- Thiếu Úy Nguyễn Thanh Quan (Quan Đen),
phi công PĐ 110 Quan Sát (khóa 72).
Tự sát chiều 30 tháng 4, 1975
36- Hồ Chí Tâm B2,
TĐ 490 ĐP (Mãnh Sư) TK Ba Xuyên (Cà Mau).
Tự sát bằng súng M16 trưa 30 tháng 4, 1975 tại Đầm Cùn, Cà Mau
37- Thượng Sĩ Phạm Xuân Thanh,
trường Truyền Tin Vũng Tàu.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 1975 tại Vũng Tàu
38- Thượng Sĩ Bùi Quang Bộ,
trường Truyền Tin Vũng Tàu.
Tự sát ngày 30 tháng 4, 1975 cùng gia đình 9 người tại Vũng Tàu
39- … và còn rất nhiều rất nhiều tấm gương sáng của những người anh hùng QLVNCH



























































































