Nam Dao
Long cười nhạt, tha cho Ngân, nhưng giáng Huệ phi làm Tư dung, đày Nguyễn-thị ra Ái châu và xung đạo sĩ họ Trần làm lính ở phường nuôi voi. Trăm quan không một ai dám hó hé, chỉ duy có một mình Hành khiển Nguyễn Trãi đứng dậy xin cáo chầu.
Năm Thiệu Bình thứ tư, quyền lực đã hoàn toàn vào tay thiếu đế. Sau khi giết Sát rồi truất Ngân, Nguyên Long đuổi Chính Sứ Nội Mật Viện Lê Cảnh Xước vì tội nhận hai mươi lạng bạc hối lộ, bãi chức Phan Thiên Tước vốn là phe đảng của Sát, bắt Tước xung quân làm lính kéo xe. Bổ sung nhân sự, Long chọn những kẻ trước đã bị Sát ruồng rẫy, đưa bọn Đỗ Đại, Lê Thận, Nguyễn Xí và Lê Thụ vào chức Tri từ tụng sự. Bấy giờ, trước mắt Long, chỉ còn một cái gai là Nguyễn Trãi. Nhưng với Trãi, hành xử phức tạp và tế nhị hơn nhiều. Muốn bắt tội, nhưng tội gì? Chẳng lẽ lại bắt cái tội Trãi là đức phu quân của Thị Lộ, kẻ độc nhất Long chỉ cho xem những con hổ mù nơi Long phải dựa cột nghe chính sự suốt gần một năm. Giá không có Trãi luẩn quẩn, Long đã vời Lộ vào Hoàng cung rồi! Nhưng dẫu gì, Trãi cũng là thầy dậy mình học. Vả lại, quá tay thì mất lòng Thị Lộ, người Long gọi bằng chị, là kẻ duy nhất Long thấy an tâm bên cạnh. Nhưng tại sao cứ khi thấy mặt Trãi, Long lại bực bội, lắm khi đến độ giận cá chém thớt, về đến hành cung là chửi mắng bọn thị nữ và đám hoạn quan không thương tiếc? Chẳng lẽ vì Trãi cứ một mực vua Nghiêu vua Thuấn? Không, không phải thế! Hay là vì Trãi bất đồng khi Long cho hặc tội Lê Ngân? A, phải rồi! Long tự nhủ, làm thế nào cho Trãi tự mình xin từ quan như Ngân là thượng sách. Nhân lúc đó, phong cho Thị Lộ một chức trong cung cấm. Chị ơi, chị phải vào với Long mới được! Long mỉm cười tinh quái. Tên hoạn Lương Đăng vừa ngu vừa hợm hĩnh nhưng biết trò hát xướng, Long lẩm bẩm, có thể dùng hắn trong việc này.
Dưới tiên triều, Thái Tổ Lê Lợi đã sai Nguyễn Trãi định ra qui chế mũ áo nhưng chưa kịp thi hành thì Trãi đã lui về Côn Sơn. Trong một buổi chầu, Nguyên Long thình lình cử Lương Đăng vào giúp Trãi hiệu định lễ nghi và nhã nhạc, phong Đăng là Lỗ bộ ty đồng giám kiêm tri điển nhạc sự. Đăng phỏng theo qui chế nhà Minh, dâng sớ tâu về lễ phục, nhã nhạc, xe, kiệu, rồi ngu ngơ hạ câu kết, rằng, “Số ngựa đóng vào xe và số đội ngũ theo hầu cũng đều có qui định cả, thần không thể chép hết được.” Nguyễn Trãi tâu, “Kiến giải của thần không giống với Lương Đăng.” Nhưng không một ai biết lý do tại sao Vua theo lời bàn của Đăng, ban hành nhã nhạc và yết Thái miếu cấm nhạc rí ren, bãi trò hát chèo, đều xếp nhạc dân gian vào loại dâm nhạc.
Được Nguyên Long ra mặt khuyến khích, Lương Đăng định xong các nghi thức đại triều, làm năm kiểu xe Ngọc, Kim, Tượng, Cách, Mộc theo ngũ hành, được thăng chức Đô giám. Vua sai chép nghi thức treo ngoài cửa Thừa Thiên, bái yết Thái miếu, bắt các quan mặc triều phục làm lễ theo nghi thức mới. Trong số ba cái chân ghế, cái ngắn nhất là đám văn quan, ngỡ ngàng trước một thứ triều nghi đầu Ngô mình Sở. Bùi Cầm Hổ tâu:
– Bệ hạ lên ngôi tới nay, hay đổi phép cũ của Thái Tổ. Như Lương Đăng, kẻ xưa Tiên đế chê khúm núm nịnh nọt, cho ra làm văn đội thì bệ hạ nay cho hắn chức Đô giám là một chức quan lớn, xin bệ hạ nghĩ lại.
Nguyên Long nghe Cầm Hổ tâu, đưa tay che miệng ngáp. Ít lâu sau, đám Hành khiển Nguyễn Trãi, Tham tri Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến và Tham Nghị Nguyễn Liễu dâng sớ, “Muốn chế tác lễ nhạc, làm được như Chu công thì sau mới không có lời chê trách. Nay sai hoạn quan Lương Đăng định lễ nhạc, chẳng nhục cho nước lắm sao! Vả lại, qui chế y đưa ra là dối vua lừa dưới, chẳng ra đâu vào đâu. Tỉ như đánh trống. Xưa nay đánh để bá quan vào chầu. Nay vua ra rồi mới đánh. Xưa, khi vua ra thì bên Tả đánh chuông hoàng chung, rồi năm chuông bôn hữu ứng theo. Nay đánh một trăm lẻ tám tiếng chuông, là số lần đếm tràng hạt của sư sãi. Xưa, Vua ra thì hô thét, vào xong mới thu dẹp. Nay, quan đã xướng tâu mọi việc, lui ra nhưng Vua còn ngồi mà đã la thét dọn dẹp là làm sao? Còn bảo theo qui chế nhà Minh thì như xưa làm xe đằng trước có rèm, sau mở cửa. Nay lại mở cửa phía trước, qui chế xưa có làm thế đâu! Đăng là đứa hoạn quan, quanh quẩn hầu cạnh vua, bọn thần trộm nghĩ là đáng ngờ lắm lắm!”
Nguyên Long nghe, nhìn Lương Đăng. Quì gối rập đầu, Đăng hắng giọng, liếc nhìn đám văn quan, giọng ỏn thót:
– Thần không có học thức, không biết các qui chế cổ. Các nghi thức đã làm chỉ trông vào hiểu biết của thần mà thôi. Còn ban hành hay không là ở bệ hạ, thần nào dám chuyên quyền!
Nguyên Long lại ngoảnh nhìn Liễu. Chỉ tay, Liễu kêu:
– Từ xưa đến nay, chưa bao giờ có cảnh hoạn quan phá hoại thiên hạ như thế này!
Liễu vừa dứt lời, Thái giám Đinh Hối từ trong bước ra mắng:
– Hoạn quan làm gì mà phá thiên hạ? Nếu có phá, thì chém đầu ngươi trước!
Xua tay, Nguyên Long giả dàn hòa, nhưng giao Tham Nghị Nguyễn Liễu cho Thẩm Hình Viện xét hỏi. Đám tháp bút bị bọn hoạn quan đẩy đến mấp mé vực bờ nhục nhã. Những kẻ giá gươm xưa nay không ưa gì chữ nghĩa bấm bụng cười thầm. Liễu bị ghép tội chết, nhưng Long ra lệnh chỉ thích chữ vào mặt rồi đày ra Diễn Châu.



























































































