Du Tử Lê
Có thể có người không đồng ý, nhưng theo tôi, Nguyễn Ngọc Tư là hiện tượng tiểu biểu, nổi bật nhất của sinh hoạt văn xuôi Việt, 40 năm qua, kể từ 1975 tới 2015 trong số những người viết trẻ.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. (Hình: 100trieucuonsach.com)
Nguyễn không cần phải mượn lớp màn che, trướng phủ của lịch sử đã lùi xa hàng trăm năm. Nguyễn cũng không cần lớp sơn son thếp vàng của dã sử, huyền sử, để chuyển thông điệp tới người đọc. Thậm chí, Nguyễn cũng không cần phải khai thác thân thể người nữ với những bản năng thú tính, để tự “P.R” với độc giả!!!
“Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, với tôi, là “bạch văn.” Nó không cần phải che đậy, mặc khoác cho nó, bộ quần áo vàng mã, lòe loẹt. Nó cũng không là những ẩn dụ phải cần đến sự giải mã của những nhà phê bình, hay chiêng trống như những tùy tinh chung quanh nhà xuất bản hoặc, nhà phát hành. Nó trực tiếp ghi nhận những hiện thực xã hội ngồn ngộn sần sượng; cùng lúc với những thơ mộng nhiều thi tính của sông nước miền Tây – đặc biệt, Đất Mũi, nơi Nguyễn sinh ra và lớn lên.
Ngay tự những dòng chữ đầu tiên, mở vào “Cánh đồng bất tận,”chỉ với một đoạn văn ngắn, Nguyễn Ngọc Tư đã cho thấy tài năng sớm chín mùi của một nhà văn, khi viết:
“Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này. Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn.”
Một đoạn văn ngắn thôi, mà đã có tới hai nhân cách hóa “dẫn đường” vào không khí khô hạn, hung hãn, gom hết lửa và những cây lúa chết non, cong như tàn nhang chưa rụng.
Rồi những nhân vật đến cuối đời vẫn không nhận được một nụ cười thân ái nào của định mệnh, lần lượt xuất hiện. Đó người cha của nhân vật nữ chính, xưng “tôi.” Đứa em trai bị ẩn ức tâm, sinh lý, cô gái làng chơi, quá “đát” dạt trôi về vùng có con kinh nhỏ (Nạn nhân, đồng thời cũng là nguồn khát khao rạo rực thầm kín (hay niềm vui) của đám đàn ông nông dân vùng đất hạn. Đến độ họ “quên phứt vụ lúa thất bát cháy khô trên đồng, quên nỗi lo đói no giữa mùa giáp hạt…”
Đó là những mảnh đời mâu thuẫn, âm u được Nguyễn Ngọc Tư thể hiện song song với bản năng thú tính, hận thù vô thức và, gốc bản thiện mơ hồ của con người.
Mô tả người đàn bà làm nghề không vốn, bị đánh ghen, được những nhân vật chính trong “Cánh đồng bất tận” mở lòng thương xót, Nguyễn Ngọc Tư viết:
“Rồi ngọn lửa hoi hót thở dưới nồi cơm đã lên tim, người đàn bà vẫn còn nằm trên ghe. Ngay cả ý định ngồi dậy cũng xao xác tan mau dưới những tiếng rên dài. Môi chị sưng vểu ra, xanh dờn. Và tay, và chân, và dưới cái áo mà tôi đã đắp cho là một cái áo khác đã bị xé tả tơi phơi những mảng thịt người ta cấu nhéo tím ngắt.”
“Và những chân tóc trên đầu chị cũng đang tụ máu. Người ta đã lòn tay, ngoáy chúng để kéo chị lê lết hết một quãng đường xóm, trước khi dừng chân một chút ở nhà máy chà gạo. Họ giằng ném, họ quăng quật chị trên cái nền vương vãi trấu. Vai nữ chính, một người đàn bà xốc xếch đã lạc giọng, đôi lúc lả đi vì ghen tuông và kiệt sức. Nhưng đám đông rạo rực chung quanh đã vực tinh thần chị ta dậy, họ dùng chân đá vói vào cái thân xác tả tơi kia bằng vẻ hằn học, hả hê, quên phứt vụ lúa thất bát cháy khô trên đồng, quên nỗi lo đói no giữa mùa giáp hạt. Cuộc vui hẳn sẽ dài, nếu như không có một ý tưởng mới nảy ra trong cơn phấn khích. Họ dùng dao phay chặt mái tóc dày kia, dục dặc, hì hục như phạt một nắm cỏ cứng và khô. Khi đuôi tóc dứt lìa, được tự do, chị vùng dậy, lao nhanh xuống ghe chúng tôi như một tiếng thét, lăn qua chân tôi, đến chỗ cha, làm đổ những bao trấu cha vừa mới xếp.”
Những cực tả, như “cao trào” của “cuộc vui” liên tiếp đẩy bi kịch tới đỉnh điểm cao nhất, với nhiều hình ảnh không thể khốc liệt hơn, “…Họ dùng dao phay chặt mái tóc dày kia, dục dặc, hì hục như phạt một nắm cỏ cứng và khô.”
Rồi:
“Đám người ngơ ngác mấy giây để chấp nhận việc con mồi bỏ chạy. Tôi mất mấy giây để háo hức thấy mình nghĩa hiệp như Lục Vân Tiên, tôi lồm cồm xô ghe dạt khỏi bờ, sợ hãi và sung sướng, tôi cầm sào chống thục mạng ra giữa sông, mắt không rời đám người đang tràn ra mé bờ chực lao xuống, nhảy nhót điên cuồng. Rồi tiếng chửi rủa chói lói chìm đi, tiếng bầy vịt tao tác kêu dưới sạp chìm đi, trong tôi chỉ có âm thanh của chiếc máy Koler4 nổ khan, rung bần bật dưới tay Điền, khạc ra những đám khói khét lẹt, đen ngòm. Khói trôi về phía sau chúng tôi, mờ nhòe những bóng người đang tuyệt vọng ngó theo, bàn tay nào đó cầm nắm tóc của chị vẫy lên phơ phất phơ phất.”
Độ lạnh được ném về mức zero hoặc xa dưới âm độ trong “Cánh đồng bất tận” không chỉ chừng đó. Dọc theo không gian ba chiều của “Cánh đồng bất tận,”người đọc còn phải chạm mặt với những bản năng, thú tính khác, của con người!
Tôi vẫn có xu hướng theo dõi những mô tả nhân vật, cảnh vật, tâm lý, với những so sánh, liên tưởng hay nhân cách hóa của một cây bút nào đó; hầu từ đấy, tôi có được cảm nhận riêng về tài năng hay tài hoa cây bút ấy.
Viết tiếp về người đàn bà “làm đĩ” Nguyễn Ngọc Tư ghi nhận:
“Nhưng chiều hôm đó và cả ngày sau, chị không ăn. Chị từ chối cả uống nước, đợi đôi môi khô đã bắt đầu nứt ra, chị mới chịu hớp một vài ngụm ít ỏi, dường như chỉ đủ ướt môi. Đói và khát, nhưng chị còn sợ đau hơn. Người ta đã đổ keo dán sắt vào cửa mình của chị.
“Tôi nói lại với cha và Điền trong bữa cơm. Tôi nghe hai người lặng đi, tiếng đũa tre khua vào miệng chén ngưng bặt. Điền ngó tôi và tôi thì đọc được sự ghê sợ, kinh tởm dồn lên trong mắt cha. Điền chan nước vào chén, lua vội vàng rồi men theo con đường đất dọc mé kinh, nó đi vào trong xóm. Tôi dặn vói theo, ghé tiệm mua giùm ngàn rưỡi đường cát.”
“Chắc gió đã bạt mất lời tôi, khi quay về, Điền không mang theo gì, nó lẳng lặng xòe tay trước mặt tôi, tay nó dính một lớp gì đó, bóng mượt, trong suốt, và đang khô quánh lại, khiến những ngón tay đơ ra như đá. Điền bảo, ‘Keo dán sắt.’ Dường như những người sản xuất ra loại keo này cũng không ngờ nó nhiều công dụng đến thế. Hai chị em tôi tỉ mẩn lột lớp keo ra, mảng da non trên bàn tay nó bỏng đỏ nhừ, tươm máu. Chúng tôi cùng ngó về chỗ khoang ghe, nghe tiếng thở thênh thang cùng gió.”
Như đã nói, ở đường bay văn chương của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc luôn gặp được nhiều hình ảnh đấy thi tính, như cụm từ khép lại đoạn văn trên của Nguyễn, “Chúng tôi cùng ngó về chỗ khoang ghe, nghe tiếng thở thênh thang cùng gió.”
(Còn tiếp 1 kỳ)



























































































