Những nẻo đường văn chương, hội họa… quyết liệt của Võ Công Liêm


Du Tử Lê 


Nhiều năm qua, những người theo dõi sinh hoạt văn chương ở hải ngoại cũng như trong nước, dường không mấy ai còn xa lạ với tác giả Võ Công Liêm. Ông được dư luận ghi nhận là một trong những người có kiến thức khá sâu rộng về văn học thế giới. Cụ thể qua những bài viết của ông về các tác giả cổ điển từ Ðông qua Tây…

Ông luôn dẫn người đọc tới những nhận định mới mẻ, bất ngờ. Mạnh mẽ và, dứt khoát.


Henry Miller ở Big Sur, tranh của Võ Công Liêm.

Mặt khác, thi ca, tùy bút, truyện ngắn của ông (nhất là hội họa), cũng cho thấy nỗ lực mở thêm nhiều cửa khác, cho các thể loại văn học, nghệ thuật mà ông bước vào – – Chọn ăn ở một cách đầy đặn, ân cần, với nhiều thao thức…

Một trong những tác phẩm của họ Võ được nhiều người chú ý là tuyển tập “Tạp Văn/Võ Công Liêm,” xuất bản bởi Hội Nhà Văn, cách đây vài năm (2010). (1)

Trong “Lời ngỏ” trước khi vào tuyển tập, họ Võ viết:

“…Hầu hết các bài viết trong tuyển tập là đánh dấu cả một thời gian nghiên cứu, học hỏi, tìm đọc qua các tư liệu khác nhau để đúc kết và thành hình tập Tạp Văn hôm nay. Những suy nghĩ và nhận xét có thể phiếm diện phần nào trong tư tưởng, nhưng vẫn cố gắng tìm kiếm và khai thác ‘dòng sinh mệnh văn hóa’ một khám phá phong cách trong lối trình diễn của văn chương.

“Ðối tượng của những bài viết chỉ đạt đến một phương diện nào đó qua một quá trình văn học lâu dài và một bề dày đáng kể. Ở đây; không phải là những bài viết có tính nhận định, bình luận quả quyết mà chỉ là một thể tài có tính văn nghệ cho một số tác phẩm, tác giả được nêu ra và xem như một đóng góp nhỏ về văn hóa trong và ngoài nước cho thêm phần phong phú…”

Dù đứng ở góc độ nào, thận trọng hay khiêm tốn thì, xuyên qua một số tựa đề của 15 tạp văn, được chọn để in thành tuyển tập, người đọc vẫn cảm nhận được tính khai phóng của tác giả qua những trang viết lao lung suy tư và, trí tuệ,

Với cá nhân tôi, từ trường của những nhan đề như “Chí phèo, nhân vật bị khước từ,” “Âm nhạc trong truyện Kim Dung,” hay “Nỗi thống khổ của Edgar Allan Poe,” hoặc “Krisnamurti tâm thức vô sư”… đã hút tôi vào những tâm cảm chìm, lắng nơi đáy sâu mà, lênh đênh mặt nổi là những con chữ, như những lượng sóng bạc đầu của tác giả.

Khép lại tuyển tập “Tạp Văn,” là bài viết nhan đề “Một chuyến đi tây.”

Một bất ngờ ý nhị! Khi họ Võ cho thấy khả năng hay tính hí lộng khá cao nơi ông.

Theo tôi, tính hí lộng trong đoạn văn trích dẫn dưới đây, lại là phản đề của những nụ cười hình thành từ ngậm ngùi, đi ra từ siêu thực:

“’Cậu có làm thơ?’ André Gide hỏi. Tôi hoảng! Cắc-ké mà dám trả lời có, thấy cũng ê trong lòng. ‘Dạ thưa có’. ‘Thế tốt quá’, Chateaubriand khen. Ông đưa ly vang (vin rouge) lên miệng mỉm cười, nụ cười hài hòa.

“Cậu làm thơ lục bát hay thất ngôn? Tôi khớp, nhưng trả lời đại: Dạ thưa thơ ‘tào lao’. Cả bàn cười ầm lên, chỉ trừ Balzac ngồi lặng không cười…”

……

“…Tôi hỏi Balzac: ‘Lúc này Sainte Beuve còn lui tới với Victor không? Thưa ông’. ‘Sao cậu lại hỏi tôi chuyện này?’ Chateaubriand có vẻ trách cứ tôi. ‘Nghe nói một thời Sainte Beuve lẹo tẹo với vợ Hugo’. Stendhal bịt miệng tôi. ‘Kìa họ đi vào. Họ là bạn thân’. ‘Không có Sainte Beuve thì không có Victor Hugo’, Chateaubriand kể, rồi hỏi tôi:
“-Cậu tên gì? Cả bàn đang ngóng đợi.
“-Dạ tôi tên Việt.
“-Có bút hiệu không?
“-Dạ thưa Âu Cơ. Rất hân hạnh! Rất hân hạnh!…”
(Trích “Tạp Văn,” tr. 165, 167.)

Không chỉ với tạp văn, ở những thể loại khác, như thi ca, truyện ngắn, họ Võ cũng cho thấy nỗ lực mở một lối đi khác, cho cõi-giới văn chương của ông.

Ðây là một trích đoạn thơ Võ Công Liêm, bài “cõi lặng”:
 
“gió cuốn những mảng tình vô ngại
rơi rụng trái sầu đông
biến mình thành vũng tối
của sa mạc ngủ quên rừng gió hú
màu trắng nắng xanh xao vàng cỏ úa
một chiều không có em
hoàng hôn hay hồn hoang màu tím huế trong tôi
những cụm khói chết cuốn theo rặng núi thở
mình co cúm đêm đen

“tôi đi vào cõi lặng
trên bước đường tùng lộ
vọng động
cơn mê đời chưa tắt”
(2)

Ngay cả những tùy bút của Võ Công Liêm về tình bằng hữu (dù chưa hề gặp nhau), cũng cho thấy bản chất ân cần, quyết liệt của ông với bất cứ thể tài nào.

Thí dụ trong bài “Du Tử Lê và tôi,” ông viết:

“Ra khỏi cổng trường Quốc Học 1963 thì tôi biết đến Du Tử Lê. Nhà thơ đến với tôi như một thỏa hiệp, một chất liệu sáng tạo đã đánh động trái tim tôi. Một cái mốc thời đại mới, một cái gì vững tin, mạnh dạn đã tìm thấy giữa muôn ngàn lẫn lộn vàng thau của những trào lưu, trường phái hay hiến chương từ Tây sang Ðông; có thể đó là một sự bình tâm cho một tâm hồn vượt thoát, có thể đó là một phản kháng nội tại do từ những nguyên nhân khác mà ra, đất phương Nam cho họ gieo hạt, nẩy mầm, phát tiết, nói theo kiểu của F. Nietzsche: ‘bi thảm của sinh tồn/the birth of tragedy’ giữa một xã hội ngổn ngang, gò đống của hai miền đất nước.

“Trăm hoa đua nở vào thời đó, họ gặp nhau như hội trùng dương ‘trên ngọn tình sầu’. Du Tử Lê đứng giữa một khung trời khác biệt, để đi vào một ngôn ngữ thẩm mỹ thơ, chất chứa một cái gì sâu lắng, trầm tư (zen), đượm một triết lý nhân sinh vốn đã nằm nôi trong tay mẹ, để rồi ra đi như kẻ du tử giữa phong ba; du tử là một đánh đổi và rồi chấp nhận bằng một sự bi thương của cuộc đời… nhà thơ trở nên độc lập và tư duy ở một cõi riêng như định vị vai trò và chức năng của một thi nhân đối diện với thực tại. Con đường Du Tử Lê đi không vin vào sự thế mà vin vào thơ để nói lên sự thế.

“Tôi rung động trước một dòng thơ như thế. Cái ‘hoang/wild’ của tôi trong đó, thời của Thanh Tâm Tuyền và Du Tử Lê: – một trường phái lãng mạn thơ mới của văn chương Việt Nam – một cái gì mới như một cuộc cách mạng tư tưởng và có một ít chất của, A. Robbe-Grillet đã dựng nên. Du Tử Lê thắp lên ngọn đuốc để đi vào ‘rừng đen/dark forrest’ như soi rọi, như canh tân trường phái, một kiểu thức của ‘tân hình thức’; có lẽ Du Tử Lê là kẻ tiên phong avant-garde của newformalism – poetry mà chưa một lần nói đến, đến bây giờ thì nó trở thành hậu-tân-hình-thức (post-newformalism). Nhận định nầy có thể làm hư hại khuôn phép thẩm mỹ của văn chương; nhưng ở đây chỉ định lượng một giá trị của ngôn ngữ thơ, lời thơ tức linh hồn thơ là những khoảnh khắc thức tỉnh đời sống, cho nên chi đối với Du Tử Lê sử dụng ngôn ngữ để làm phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ (…).”

(Còn tiếp 1 kỳ)


Chú thích:

(1) Ðược biết nhà văn, họa sĩ Võ Công Liêm sinh năm 1943 tại Huế. Ông là cựu học sinh Quốc Học Huế. Năm 1963, ông tốt nghiệp tú tài ban văn chương. Từ năm 2000 tới 2003 ông học hàm thụ triết học Tây phương với Ðại Học Cambridge, Anh Quốc. Về hội họa, họ Võ cho biết ông “Tự học vẽ, vẽ những ám ảnh nội tại, những vóc dáng khác nhau qua đường nét phóng túng để diễn tả trọn vẹn tình yêu và tự do.” Năm 2007, ông đã có một cuộc “Triển lãm gia đình” tại Calgary, AB, Canada…” Về sáng tác thơ, văn, Võ Công Liêm xuất hiện thường xuyên trên báo giấy, báo mạng trong và ngoài nước kể từ năm 2000 đến nay.

Trước khi xuất bản tuyển tập “Tạp Văn,” họ Võ đã phát hành tuyển tập “Thơ Võ Công Liêm” năm 2008. Và, tác phẩm mới nhất của ông (XB năm 2013) là tuyển tập nghiên cứu hội họa nhan đề “2013 VCL tranh vẽ”… Cần liên lạc với tác giả Võ Công Liêm, xin qua địa chỉ Email: [email protected]

(2) Xem thêm dutule.com 
 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT