Những nẻo đường văn chương, hội họa… quyết liệt của Võ Công Liêm


Du Tử Lê

(Tiếp theo)

“…Trong tâm trạng thúc đẩy tự chính mình để tìm cho mình một sự vượt thoát sáng tạo. Một: ‘sáng tạo trong tinh thần đừng để mất mình, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai’ (Nietzsche) bởi trong thơ Du Tử Lê đã cho ta tìm thấy được 2 yếu tố quan trọng ‘CHỮ’ và ‘ÂM’. Chữ và âm là trọng tâm chính cho thơ.


Bìa sách của Võ Công Liêm. (Hình: VCL)

“Du Tử Lê sử dụng tài tình chất liệu nầy. Du Tử Lê lấy thơ để nói một cái gì trong đó – a poem should not mean but be, nhưng là hiện hữu. Có những câu thơ đưa ta về ‘vô dư’ nhà Phật. Rốt ráo trong chiều sâu thơ Du Tử Lê không có Thăng và Trầm, bởi tâm thức nhà thơ, lúc ấy; là ‘tâm bình đẳng’. Cho nên thơ của Du thi sĩ trở nên thanh thoát, diệu vợi (enlightenment). Rải rác khắp nơi từ khi khởi làm thơ cho tới những tháng ngày cuối đời, Du Tử Lê chủ trương thơ chỉ cần ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ý nghĩa, có những câu thơ đứt ngang làm cho câu thơ trở nên ‘nonsence’ nhưng cái vô nghĩa có duyên kỳ lạ. Thơ Du Tử Lê vững chắc, đông cứng, đậm đặc, cụ thể (concrete poetry) là thế. Một cách riêng của Du Tử Lê không thể ‘thuộc địa’ dễ dàng. Hay ở chỗ đó! đến nỗi sau khi thâm nhập và ngộ được một câu thơ hay, bài thơ hay của Du Tử Lê, tôi phải ‘thốt’ bằng lời lẽ của E. Kant: ‘pourquoi vert l’éternité’ cũng chẳng khác gì lời phẫn nộ J. Pollock khi nhìn tranh của P. Picasso kinh hoàng mà thốt lên cái chữ phàm tục nầy: ‘fuck!’. Một cái ‘Ði-Em’ thỏa chí tang bồng hồ thỉ. Cảm nhận được nghệ thuật là ở chỗ đó! Và đó cũng một đòi hỏi cho người đọc thơ hay ca ngâm thơ Du Tử Lê. Ðều chung một cảm thức siêu thoát; đừng đi xa quá mà lạc đường thơ, nhất là thơ Du Tử Lê. Nói đến con người và thơ Du Tử Lê chúng ta không cần dẫn chứng hay bình giải hoặc so sánh Du Tử Lê với những nhà thơ lừng danh xưa nay, trong và ngoài nước, ví Du Tử Lê nầy nọ, trích dẫn những hoạt đầu như thế là một thẩm định không nói lên cái siêu lý của thơ, ngược lại làm hư hại một thiên tài chữ nghĩa thơ văn vốn đã nảy sinh giữa kỷ nguyên nầy(epic) và càng làm thế vô hình dung hạ thấp giá trị cho một thi nhân. Tại sao? bởi quá nhiều lý lẽ để bào chữa, quá nhiều cuốc xẻng để đào đục (dù đào bới, ‘bắt’ những cái hay trong thơ) mà trong lúc khắp nơi trong và ngoài nước, trước và sau chiến tranh đều đồng tình và thừa nhận với Du Tử Lê.

“Du Tử Lê không buồn không vui trước những lời thị phi, ông mỉm cười không nói hay đó là bản chất tự tại của nhà thơ (DTL). Ðánh giá phải hợp lý mới thấu suốt hồn thơ Du Tử Lê. Bởi cái chất thơ Du Tử Lê không thể nói suông (như mắm) không thể ngọt bùi (như vắt chanh) và cũng không thể ngợi ca (ẩu) như chứng nhân mà cần có con mắt thẩm mỹ quan (aesthetics) mà thấy được ý và hồn thơ Du Tử Lê. Theo quan điểm của tôi nó tiềm tàng một chất triết lý trong đó; vậy có cần dẫn chứng ở đây? Không! bởi thơ có một cá tính siêu lý, siêu nhiên vì thơ là cõi phi, tự tìm thấy trong thơ để rồi cảm nhận, dẫn chứng là biện minh, buộc thơ đi vào ngả rẽ, cái triết lý nhân sinh quan trong thơ Du Tử Lê là ý thức (consciousness) hơn là dẫn chứng, tất cả đã dàn trải hơn nửa thế kỷ qua, không cần một đòi hỏi nào khác, không cần phê bình (dưới dạng phê bình văn học nghệ thuật) khi mà mình chưa đạt tới; vậy ‘criticize’ như định mức cho một phủ nhận, điều ấy làm thương tổn cho dòng thơ đi vào đời. Tư duy của Du Tử Lê là bản anh hùng ca, thấm nhuần tình người và tình quê, tự nó đã xuyên thủng những giáo điều giả tạo, cố công tuyên truyền nhưng vẫn không hấp dẫn người nghe kể cả giới bình dân, một thứ văn chương cho mọi giới; nếu cảm nhận một cách sâu sắc. Du Tử Lê không cho mình đã thành danh, dù ở tuổi thất thập, Du Tử Lê thành danh ở quần chúng chớ không ở nơi mình; và đến nay Du Tử Lê vẫn giữ hồn thơ cho tới khi nhịp tim không còn cảm hóa. Khí tiết của một người làm thơ là ‘thép đã tôi thế đấy’. Du Tử Lê vẫn còn hít thở nguồn thơ đó cho nhân gian dù hôm nay hay mai sau. Du Tử Lê và Tôi: tôi ở đây là một bản ngã tự tại, một cái ‘self’ trong tôi, một cái ngã-mạn chưa đạt tới để phải thốt: của Zarathustra, của Kant, của Pollock, của Freud, của Sartre, của Warhol và Basquiat… vì rằng ‘tôi’chưa bao giờ ‘tới’, chứ ‘tôi’ không phải nói lên cái thân tình; tôi là cảm phục khí phách. Cho nên chi Du Tử Lê và Tôi gặp nhau bằng cảm thức vô hình của người đồng cảnh, giữa hai chúng tôi có một cái đau chung, đau thể xác và linh hồn, một quằn quại của bi thương. Giữa chọn lựa; chúng tôi chọn ‘điều hai’. Xin nhớ ‘hai’ không phải ở cái phép nhị-nguyên(!), trong cái chọn lựa nó đã có thuyết nhị-nguyên mà Du Tử Lê đã trút vào dòng thơ bất tận đó… từ bấy lâu nay…” (3)

Tuy nhiên, lãnh vực mà Võ Công Liêm gây cho tôi ấn tượng mạnh mẽ nhất lại là hội họa.

Tôi được xem khá nhiều tranh của họ Võ.

Cõi giới tranh Võ Công Liêm hầu hết là màu lạnh = tối.

Tôi có cảm tưởng họ Võ đi tìm cái đẹp của con người qua những đường nét dị dạng. Méo mó. Mất cân bằng. Bất bình thường (rất gần với tranh Picasso). Tựa tác giả muốn cụ thể hóa đời sống mất cân bằng của con người hôm nay, sau bao nhiêu bi kịch chiến tranh và thiên tai? Hay đó cũng chính là sự “phá sản” tinh thần? Phản ảnh tình trạng thân, tâm phân liệt của những trục trặc tâm lý nhuốm bệnh?

Tôi không biết đâu là cảm nhận sâu kín của họ Võ qua những bức tranh của đời-sống-dị-dạng-hôm-nay. Nhưng, nhờ thế, tôi không mấy ngạc nhiên, khi thấy trong tập sách viết về hội họa “2013 VCL” của Võ Công Liêm (4), ông đã cho in lại một số tranh mà, nhân dạng chỉ còn như một cái cớ, để ông diễn tả một điều gì khác hơn…?!!

Nhận định về tác phẩm vừa kể, nhà thơ Phan Tấn Hải viết:

“Ðó là một tuyển tập tranh vẽ và các bài lý luận về hội họa, một hình thức hiếm thấy. Không chỉ là cách vẽ hiếm thấy, chính cách lý luận trong các bài viết của Võ Công Liêm cũng rất mực hiếm gặp trong đời thường.

“Anh là họa sĩ? Vâng, Võ Công Liêm là họa sĩ rất mực hậu hiện đại ngay nét vẽ của anh, nơi đó hình người và chân dung như những phóng ảnh đã biến dạng trong trí nhớ, dù là tranh vẽ trên giấy (như tấm ‘Tình Trong Như Ðã Mặt Ngoài Còn E’ với những khuôn mặt dài, cơ phận trên mặt chệch nghiêng hư ảo) hay trên bố (như tấm ‘Bóng Tối’ nơi những tảng màu phi hình dạng nằm chồng lên nhau cũng đầy ẩn nghĩa như bóng tối).

“Tranh Võ Công Liêm là những tảng màu trong trí nhớ, trong mơ, nơi hình dạng không đủ hiện ra hình dạng. Thí dụ, tấm tranh ‘Người Ðàn Ông và Trăng’ là một người ngồi, đầu trông như lưỡi chiếc rìu và chúng ta không thấy trăng đâu cả, chỉ trừ vài lằn trắng như gợi ra (…).

“…Võ Công Liêm cũng là một nhà lý luận về mỹ thuật. Trong bài tựa đề ‘Modigliani: Họa Sĩ Không-Hóa’ họ Võ đã viết về họa sĩ nổi tiếng này, trích như sau:

“…Thời gian sống ở Pháp, Modi la cà khắp phố phường Paris, trao đổi hay thảo luận về hội họa với những bậc tài hoa, hay những bậc thầy mà Modi một thời ngưỡng mộ, ông thường ngồi cà phê nơi tụ hội văn nhân nghệ sĩ hay những hộp đêm, hầm rượu, say sưa tửu điếm. Modi ham vẽ như ham sống, đến đâu cũng vẽ, ông vẽ những đường nét như ‘vết chém’ qua chân dung của các nghệ sĩ như Diego Rivera, Picasso, Juan Gris, Jacques Lipchitz, Moise Kisling và Chain Soutine… với những nét bung phá đó, dần dần ông chuyển hướng qua đường nét ‘cổ-dài’ (long-necked nude) khởi từ đó Modi nghiên cứu và dồi mài đường nét ‘dài’ để tạo cho mình thế đứng riêng biệt. Qua những hình ảnh trong tranh người ta gán cho ông cái tên gọi họa-sĩ-phỉ-báng (le peintre maudit). Nhưng chính trong cái xấu xí (damnable) là cả một ngạc nhiên sau nầy khi mà người ta tìm thấy ‘chất liệu’ đó như một bản chất riêng biệt về cái bôi nhọ, chê bai mà Modi đã vẽ lên những hình tượng như thế.

“Ðời bỏ quên Modi, những đứa con tinh thần của Modi trở nên vô thừa nhận; điều đó có khác gì Van Gogh. Modi ngậm đắng lao vào đời như kẻ khốn cùng; mặc dù những năm gần đây tiếng tăm Modi đã trở thành ‘huyền-sử-ca’ trong giới văn nhân ở Paris cũng như ở cố quốc. (Nước Ý mắc cái nợ di sản của Modigliani) nhưng không phải những thừa nhận đó mà kéo Modi ra khỏi vũng tối, có những đêm say mướt dưới cơn mưa ở Montparnasse, lạnh, đói, thiếu thốn ‘poverty-stricken’ sống nương nhờ như kẻ vô gia cư vô địa táng, một đời phóng đãng phủ quanh ông để rồi buột miệng: ‘Tôi say ngất ngư cho tới chết’ (I am going to drink myself to death). Tiếng nói đó như thổn thức cho thân phận mình. ‘Modigliani chấp nhận mọi thương đau để hoàn thành những tác phẩm mà Modi nuôi dưỡng từ khi dấn thân vào con đường hội họa, người đã trải qua những chặng đường khốc liệt nhất, kể cả những cuộc tình đi qua trong đời Modi. Những tác phẩm của ông chính là đời ông…’” (5)

……

Ðể ra khỏi bài viết này, tôi muốn mượn câu văn của Võ Công Liêm, dành cho Modigliani, để nói về Võ Công Liêm, rằng:

“Những tác phẩm của ông chính là đời ông” vậy.

(Tháng Mười Hai 2012 – Tháng Sáu 2015)


(2), (3), (5): Nguồn dutule.com

(4) Tác phẩm này do NXB Hội Nhà Văn ấn hành, Hà Nội, 2013. Tập chú vào ba họa sĩ ảnh hưởng sâu rộng trong giới là Salvador Dalí; Picasso và, Modigliani.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT