Du Tử Lê
Một trong những nhà văn nữ trẻ, tiếp tục cầm bút sau biến cố tháng 4, 1975, ở hải ngoại, được coi là thành công, đó là Ðặng Thơ Thơ.
Tác phẩm đầu tay, tựa đề “Phòng triển lãm mùa đông,” của tác giả này, xuất bản năm 2002. Ngay khi vừa phát hành đã nhận được nhiều tiếng vang tốt đẹp từ độc giả cũng như những người đi trước, thuộc văn giới.

Nhà văn Ðặng Thơ Thơ. (Hình: Ðặng Thơ Thơ cung cấp)
Trong một bài viết công phu, như một tiểu luận văn chương của Ban Mai, trên tạp chí Hợp Lưu về hiện tượng Ðặng Thơ Thơ, còn lưu trên trang mạng Wikipedia-mở, tác giả Ban Mai đã ghi nhận:
“…Ðặng Thơ Thơ là một tác giả nữ đặc biệt trong dòng Văn Học Việt Nam di dân, với một tâm hồn nhạy cảm luôn dằn xé trước thực tại và bản thân, tác giả thường trực khủng hoảng nội tâm, mâu thuẫn với chính bản thân mình, thích sống khép mình lui vào sự cô đơn, đọc tác phẩm của cô người đọc luôn tìm thấy sự tự tra vấn này.
“Một trong những ám ảnh thường trực trong tác phẩm Ðặng Thơ Thơ là sự ‘sống’ và cái ‘chết’. Tác giả thường cho nhân vật tự hỏi: ‘Người ta có thể “sống nhiều cuộc đời không? Người ta có thể chết nhiều lần không?… Mình có thể ngất đi, rồi tỉnh dậy hóa ra người khác, đúng không? Nếu mỗi lần sống lại, mình biến ra một con người khác, thì chuyện chết đi sống lại là tất nhiên. Ðúng không? Nói chung, con người vẫn từng chết đi sống lại mà không hay biết. (Nđd)
“Và linh cảm về một cái chết trước mắt. ‘Mân hay ngồi đó viết thư cho một người nào đó, báo tin thì đúng hơn, về cái chết của chính cô. Mình sẽ tự tử vào một ngày mùa thu’, cô viết cho một người bạn có tên bắt đầu bằng chữ S, ‘Mình không bình tĩnh chút nào, mình rất hồi hộp, như sửa soạn đi chơi xa, mà có lẽ sẽ không về nữa’. (…)
“Giai đoạn đầu nội dung trong tác phẩm của Ðặng Thơ Thơ thiên về những chủ đề nhẹ nhàng như tình bạn, gia đình, tình yêu đôi lứa, cái đẹp trong nghệ thuật, văn mượt mà trong sáng, cảm xúc tuôn chảy như thơ. Trái lại, giai đoạn sau những đề tài tác giả phản ánh lại mang tính gai góc như văn chương nữ quyền, ẩn ức của những người đồng tính, lưỡng tính… hay các vấn đề nhạy cảm mà người viết trong nước thường tránh né như đối diện quá khứ, lật lại lịch sử. Giai đoạn này, văn phong thiên về tính chính luận, lý trí nhiều hơn, tác giả chú trọng nhiều đến kỹ thuật sáng tác. Một trong những tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là truyện ngắn ‘Ði tìm bản kinh thánh cuối’.
“Lấy tư liệu từ Kinh Thánh làm chất xúc tác, Ðặng Thơ Thơ đưa ra những luận đề: Vị trí và giá trị của người phụ nữ trong một xã hội giáo điều, mối tương quan giữa Niềm tin-Tri thức, Giáo điều-Tình yêu, và sự khả tín chính trị (…).
“Nội dung truyện xoay quanh nhân vật Tôi là một thầy tu dòng Tín giáo, có nhiệm vụ chép kinh thánh để lưu giữ, truyền cho hậu thế. Nhà văn Ðặng Thơ Thơ dẫn người đọc vào một không gian hư cấu huyền ảo, không hiện thực huyền ảo mà thuần túy biến ảo của những truyền thuyết trong Tân Ước. Không gian và thời gian trong tác phẩm mở rộng vô giới hạn làm người đọc có cảm tưởng đang bay lượn ngoài vũ trụ nhìn về trái đất xem quá trình phát triển của nhân loại đang luân chuyển phía dưới. Tất cả mập mờ cùng lúc minh bạch, tất cả thâm u vừa chập chờn phân vân trong những gào la dằn xé của lý trí buộc im lặng.” (…)
Vào sâu hơn thông điệp mà Ðặng Thơ Thơ nhắm gửi trong truyện ngắn “Ði tìm bản kinh thánh cuối”, tác giả Ban Mai đã chỉ rõ cho người đọc thấy những phạm trù lớn trong khu rừng văn chương rậm rạp và phức tạp của Ðặng Thơ Thơ, như phạm trù “Phụ nữ”:
“…Văn chương tranh đấu cho nữ quyền là một trong những đề tài quan trọng đã được Ðặng Thơ Thơ đề cập đến nhiều trong quá trình sáng tác của cô. Trong ‘Người vợ Khổng Tử và cô giáo nữ quyền’ tác giả viết: ‘Ðằng sau mỗi vĩ nhân là một người đàn bà vĩ đại. Tôi rất thích viết về đàn bà vĩ đại. Nhưng vợ Khổng Tử có thật vĩ đại không? Chẳng ai biết gì về người vợ của ông. Nàng tên gì? Dung nhan nàng ra sao? Tài năng nàng thế nào? Nàng đã thành đạt gì trong cuộc sống, ngoại trừ việc cho ông mấy người con, trong đó có con trai nối dòng họ Khổng? Nàng có biết nói, biết khóc, biết cười không? Nàng có biết đọc, biết viết, biết làm thơ không? Chẳng sách vở nào nói đến nàng. Chẳng ai vẽ chân dung nàng. Làm sao vẽ chân dung một người không có chân dung? Tìm trong tiểu sử của Khổng Tử cũng không có tên nàng. Nàng là người đàn bà vĩ đại không tiểu sử.’” (…)
“Trong một lần trao đổi, tôi hỏi Ðặng Thơ Thơ: ‘Quan niệm nghệ thuật của Thơ Thơ là gì?’, cô trả lời không do dự: ‘Nghệ thuật có thể không mục đích từ cương vị người nghệ sĩ, nhưng tác động của nghệ thuật đúng nghĩa sẽ làm thay đổi hoặc nâng cao thẩm mỹ, cách nhìn, chiều kích, và tính nhân bản trong mỗi chúng ta.’
“Ðọc ‘Ði tìm bản kinh thánh cuối’ ta bắt gặp thời gian luôn biến chuyển co giãn với một biên độ rộng: quá khứ-hiện tại-tương lai song hành cùng nhau. Các khái niệm, ý tưởng, hình tượng ẩn dụ hòa trộn nhuần nhuyễn tạo nên một cấu trúc đa tầng, làm phái sinh nhiều nghĩa qua cái nhìn đa chiều của người đọc. Cách viết này, làm cho không khí truyện luôn xáo trộn, biến ảo kéo theo cảm xúc của bạn đọc cũng luôn biến chuyển. ‘Ði tìm bản kinh thánh cuối’ là một truyện kén bạn đọc, quá trình đọc cũng là quá trình khám phá, từng người đọc sẽ tự tạo cho mình một văn bản mới, bạn đọc cùng tham dự quá trình sáng tạo với nhà văn.” (Nđd)
Ðể kết luận bài viết, như một tiểu luận về thế giới truyện Ðặng Thơ Thơ, tác giả Ban Mai nhấn mạnh:
“Hành trình đi tìm cái mới trong sáng tạo cũng là hành trình tìm kiếm bản kinh thánh cuối của tác giả, nhưng làm sao ta biết bản kinh thánh nào là bản kinh cuối, cũng như sáng tạo cái đẹp không bao giờ dừng, nó luôn biến chuyển, luôn thay đổi, đó chính là lời kêu gọi của Ðặng Thơ Thơ.” (Nđd)
***
Nếu “Ði tìm bản kinh thánh cuối” được Ban Mai chọn như một truyện ngắn tiêu biểu của Ðặng Thơ Thơ, viết cách đây hơn 10 năm thì, “Khả Thể,” tác phẩm mới nhất của họ Ðặng, đã được nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc, đánh giá như một đỉnh điểm mới của tác giả này, trong lộ trình văn chương của cô.
Phát biểu trong buổi ra mắt “Khả Thể” ở phòng sinh hoạt Việt Báo mới đây, họ Bùi cho rằng:
“…Tác phẩm Khả Thể đã pha trộn giấc mơ và hiện thực. Theo Bùi Vĩnh Phúc, Ðặng Thơ Thơ chọn cách viết khác hơn cách ‘hiệu ứng gián cách’ của các nhà văn học, đó là cách không phải biểu tượng bằng chữ viết mà bằng mực viết màu trắng như dòng sữa chảy ra từ vú của người phụ nữ. Theo Bùi Vĩnh Phúc, Ðặng Thơ Thơ đã chọn đứng về phía nữ quyền. Theo Bùi Vĩnh Phúc, ‘Khả Thể’ là cái có thể xảy ra. Về ngôn ngữ của Ðặng Thơ Thơ, nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc cho biết tất cả những bài viết của Ðặng Thơ Thơ là cái gì lôi cuốn người đọc. Trong ngôn ngữ của Ðặng Thơ Thơ, Bùi Vĩnh Phúc ghi nhận là chứa nhiều biểu tượng mang tính ẩn dụ. Nhận xét và nét hậu hiện đại trong ‘Khả Thể’, Bùi Vĩnh Phúc nói đến 3 điểm chính: Tính tự quy chiếu, nét giải trung tâm hóa, và tính diễu nhại, nhưng khác với các nhà văn hậu hiện đại khác, Ðặng Thơ Thơ diễu nhại một cách nghiêm túc, không diễu cợt…” (Việt Báo, số đề ngày Thứ Tư 18 tháng 2, 2015).
Tôi trộm nghĩ, với tài năng, trí tuệ của Ðặng Thơ Thơ, tương lai, chắc chắn cô sẽ còn đem lại cho sinh hoạt văn chương của người Việt tỵ nạn, thêm nhiều tác phẩm giá trị khác nữa.



























































































