Gánh hát cải lương và chiếc máy đèn


Ngành Mai

Nghệ thuật cải lương từ lúc mới hình thành vào đầu thập niên 1920 đến nay, trải qua mấy thế hệ rồi, hầu như ai cũng biết bộ môn nghệ thuật này luôn hoạt động về đêm, chỉ trừ trường hợp bất khả kháng, như tình hình an ninh ở mỗi địa phương, hay là lệnh giới nghiêm từ 9, 10 giờ tối thì cải lương bắt buộc phải hát ban ngày để đào kép, công nhân sống tạm. Hoặc là những ngày Tết, ngày lễ thì mới có thêm suất hát 3 giờ chiều để kiếm thêm tiền, chớ chủ yếu vẫn là suất hát tối mới có đông khán giả, mà đã hát ban đêm thì dĩ nhiên là phải có đèn đuốc.


Một đêm hát tại sân bãi xã Thới Hòa, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Hát ở thôn xã dĩ nhiên là phải có máy đèn. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Khi xưa, nhờ ánh sáng của đèn măng xông mà cải lương hoạt động đều suốt hơn hai thập niên, nếu có trở ngại đèn bị hư hỏng thì cũng không phải lo lắng gì nhiều, bởi ít ra cũng có những nhà hào hiệp ở địa phương, họ sẵn sàng giúp cho mượn xài tạm chiếc đèn loại này để trình diễn cho đến vãn hát. Hoặc cùng cực lắm thì người ta dùng nhiều cây đèn cầy loại lớn cũng xong một đêm hát. Gánh hát của nghệ sĩ Bảy Nam, thân mẫu của kỳ nữ Kim Cương, lúc đi hát ở đồn điền cao su từng dùng mủ cao su cặn bó lại thành cây đuốc để hát.

Thế nhưng, từ khi khoa học kỹ thuật tiến lên, điện đã có ở Sài Gòn, ở các tỉnh thành, thị trấn thì đèn măng xông được coi như lạc hậu, các đoàn cải lương đã có loại ánh sáng đèn điện rất dễ dàng sử dụng và tiện lợi hơn nhiều. Nhưng cũng chính vì cái không còn sử dụng ánh sáng đèn măng xông, mà nhiều đoàn hát đã gặp phải tình trạng “hãi hùng” do bởi nạn cúp điện, mà sự thiệt hại nhẹ nhứt là phải trả lại tiền vé cho khán giả. Còn nặng nề hơn là bị đập phá đồ đạc âm thanh, dụng cụ sân khấu, cùng với sự hành hung, đánh đập công nhân, đào kép, v.v…

Vào thời những năm 1940 chỉ có vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, và Gia Ðịnh là có điện từ chiều cho đến sáng. Còn các tỉnh thành, thị trấn thì điện chỉ sáng đến 10 giờ đêm thì nhà đèn ngưng chạy, hoặc có vài nơi nhà đèn chạy đến 12 giờ, rồi thì đèn điện cũng tắt, người ta phải sử dụng đèn dầu, đèn cầy nếu phải thức khuya. Còn như đi ra khỏi thị trấn vài cây số là phải dùng đèn măng xông như trước đó mà thôi. Tóm lại là thời này tuy đã có điện nhưng rất hạn chế, và gánh hát cải lương cũng chẳng được nhờ cậy bao nhiêu, mà chủ yếu vẫn là đèn măng xông treo ở bốn góc khán trường.

Rồi đến giữa thập niên 1940, sau Thế Chiến 2, các gánh hát lớn bắt đầu có chiếc máy phát điện nhỏ được mang theo đi lưu diễn, để khi nhà đèn cúp điện thì cho máy chạy. Lúc bấy giờ gánh hát dọn đến đâu, người ta chỉ nhìn vào chiếc máy đèn là đánh giá ngay thực lực của đoàn hát. Nếu như máy đèn lớn thì bầu gánh thuộc dạng khá giả, đồng nghĩa với gánh hát lớn, tuồng hay, đào kép tên tuổi, trang phục phông màn đẹp mắt. Còn như máy đèn nhỏ, cũ kỹ thì coi như gánh hát đó nghèo nàn, đào kép ít ai biết đến, tuồng tích cũng chẳng có gì đặc biệt. Tuy vậy máy đèn cũng chỉ sử dụng cho ánh sáng mà thôi, chớ thời này chưa có microphone khuếch đại âm thanh, đào kép phải phát âm lớn, và khán trường phải im lặng thì mới nghe diễn viên ca hát.

Sang qua thập niên 1950 cũng có vài đoàn hát có tầm cỡ như đoàn Hoa Sen của Bảy Cao, đoàn Thanh Minh của Năm Nghĩa, đoàn Kim Thanh của bốn nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng, Thúy Nga. Các đoàn đại ban này ngoài chiếc máy phát điện lớn, họ còn dự phòng thêm chiếc máy nhỏ, để mỗi khi chiếc máy chính bị trục trặc thì chiếc máy nhỏ đã sẵn sàng cứu vãn tình hình, chớ không thôi thì phải trả lại tiền vé cho khán giả thì đoàn hát mới yên thân. Ðoàn hát lớn đi lưu diễn luôn có người chuyên viên điện được trả lương tháng đi theo đảm trách phần máy đèn. Nói chung thời thập niên 1940-1950 này nhiều nơi đã có điện, nhưng chiếc máy phát điện riêng vẫn là chính yếu của gánh hát cải lương, là sinh mệnh của đoàn hát.

Cái thời mà đại đa số người dân ở nông thôn chẳng hề biết điện là gì này, bầu gánh cải lương muốn có chiếc máy phát điện riêng cỡ nhỏ thôi cũng phải bán 10 con trâu mới có thể mua được. Còn như muốn có chiếc máy lớn để có nhiều ngọn đèn soi sáng làm xôm tụ gánh hát thì phải bán cả ruộng đất.

Sang qua thập niên 1960 máy phát điện được nhập cảng nhiều, khá phổ biến, nên việc mua máy phát điện riêng cũng dễ dàng, thường là máy của Nhựt nhập vào được coi như tốt nhứt, giá cả cũng phải chăng không đắt lắm như thời thập niên 1940-1950. Nhờ máy đèn dễ mua nên các gánh hát dù nhỏ cũng trang bị cho mình chiếc máy phát điện để dự phòng. Nói là dự phòng, tức có máy nhưng ít khi chạy, do bởi nhiều nơi đã có điện, chỉ khi nào cúp điện thì máy đèn mới chạy.

Ðây là thời kỳ vàng son của cải lương, ở đô thành ít khi bị cúp điện, và ở tỉnh thì nhiều nơi đã có điện 24/24. Tuy vậy những gánh hát lớn như đoàn Kim Chưởng đi lưu diễn vẫn có máy phát điện mang theo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT